NHỮNG ĐIỀU NÊN KIÊNG CHO NGƯỜI BỆNH XƠ GAN

14:04 |
Xơ gan rất dễ dẫn đến ung thư gan và các bệnh gan mãn tính. Xơ gan tuy khó chữa nhưng nếu phát hiện sớm và có phương phát điều trị hợp lý và chế độ dinh dưỡng phù hợp sẽ giúp bệnh nhân cải thiện được các triệu chứng và phòng ngừa được các biến chứng có thể xảy ra. Dưới đây là những lời khuyên về chế độ dinh dưỡng đối với người mắc bệnh xơ gan:

Người bị xơ gan nên:

- Tuyệt đối không uống rượu.
                                               

- Cân đối giữa các thành phần như chất đường, chất béo, chất đạm, rau và trái cây.

- Bệnh nhân bị bụng báng phải hạn chế ăn muối, nước tương, nước mắm, chao và tất cả những thức ăn có vị mặn. Lượng muối natri không vượt quá 1.000 mg mỗi ngày, tương đương khoảng 2,5 g muối ăn.

- Hạn chế ăn những thức ăn đóng hộp, thức ăn chế biến sẵn và những thức ăn bán ngoài hàng ăn vì chúng chứa nhiều muối và nhiều bột ngọt. Nên nhớ rằng, bột ngọt cũng có nhiều muối natri trong đó.

- Uống khoảng 1-1,5 lít nước mỗi ngày.

- Nên tránh ăn mỡ động vật, bơ mà thay bằng dầu hoặc bơ thực vật.

- Người bị xơ gan có nhu cầu về chất đạm tương tự như người bình thường. Trung bình người lớn cần mỗi ngày khoảng 1 g protein cho mỗi kg cân nặng, nghĩa là một người nặng 50 kg cần khoảng 50 g protein. Những thức ăn có nhiều chất đạm là thịt và các sản phẩm chế biến từ thịt (chứa 20% protein), cá (20%), trứng (13%), ngũ cốc (10%), sữa (3%). Khi bệnh nhân xơ gan bị lơ mơ hay hôn mê, phải ngưng ăn chất đạm hoàn toàn.

- Rau và trái cây tươi là nguồn cung cấp vitamin và các khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể và hoạt động của gan.

Để phòng bệnh xơ gan, nên hạn chế uống rượu và tiêm phòng viêm gan B, (cần tiêm sớm cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ). Đối với những người đã bị viêm gan B hoặc C mạn tính, cần theo dõi định kỳ 3 hoặc 6 tháng một lần để phát hiện và điều trị sớm những trường hợp viêm gan đang tiến triển, nhằm hạn chế các biến chứng nặng như xơ gan và ung thư gan. Cần theo dõi sức khỏe định kỳ để phát hiện và điều trị sớm các bệnh lý gây viêm gan do các nguyên nhân khác như suy tim, tắc mật.
Xem tiếp…

NHỮNG BIẾN CHỨNG NGUY HIỂM CỦA BỆNH XƠ GAN CỔ CHƯỚNG

13:46 |
Cổ Chướng là biến chứng thường gặp của xơ gan. Khoảng 50% bệnh nhân (BN) xơ gan còn bù (chưa có biểu hiện lâm sàn) sẽ xuất hiện cổ chướng trong vòng 10 năm. Sự xuất hiện cổ chướng là một bước ngoặt đặc biệt trong diễn biến tự nhiên của xơ gan, vì sau đó 2 năm khoảng 50% BN tử vong. Theo định nghĩa của Câu Lạc bộ cổ chướng quốc tế, cổ chướng đơn thuần là cổ chướng không có nhiễm khuẩn và không tiến triển đến hội chứng gan thận, được chia làm 3 mức độ:

Độ 1: Cổ trướng ít chỉ phát hiện trên siêu âm.

Độ 2: Cổ trướng trung bình

Độ 3: Cổ trướng căng.

Cổ trướng dai dẵng là cổ chướng không kiểm soát được bằng thuốc hoặc tái phát sau chọc tháo, gồm 2 nhóm:

Nhóm 1: Cổ chướng kháng trị (không đáp ứng liều cao thuốc điều trị)

Nhóm 2: Cổ chướng khó trị (khó kiểm soát do xuất hiện tác dụng phụ của thuốc làm hạn chế liều lợi tiểu hiệu quả).

Về điều trị, cổ trướng độ 1 chỉ cần hạn chế muối trong chế độ ăn trong khoảng 90mmol Na+/ngày là đủ, bằng cách không cho thêm muối vào thức ăn và tránh thức ăn chế biến sẵn. Hạn chế nước không được khuyến cáo cho BN cổ chướng đơn thuần. Bệnh nhân cổ trưởng độ 2, ngoài việc hạn chế muối, thường phải sử dụng thuốc lợi tiểu. Thuốc ưu tiên lựa chọn đầu tiên là Spironolactone, thuốc lợi tiểu kháng aldosterone. Trong nhiều trường hợp, có thể phối hợp với Furosemide (không sử dụng đơn thuần vì hiệu quả kém). Trường hợp cổ trướng độ 3, cổ trướng dai dẳng, thường sẽ phải phối hợp điều trị thuốc với chọc tháo dịch cổ trướng nhiều lần kèm truyền albumin.

Nhiễm trùng dịch cổ chướng

Nhiễm trùng dịch cổ chướng (NTDCC) là biến chứng thường gặp, gặp ở 10 – 30% BN xơ gan nhập viện.

BN bị NTDCC có thể có một vài biểu hiện như sốt, đau bụng âm ỉ, buồn nôn hoặc đi ngoài phân lỏng nhiều lần. Tuy nhiên, nhiều BN có triệu chứng rất mờ nhạt, vì thế biến chứng này cần được tìm ở BN mới xuất hiện hôn mê gan, suy giảm chức năng thận hoặc tăng bạch cầu máu ngoại vi.

Điều trị NTDCC là sử dụng kháng sinh phổ rộng ngay sau khi có chẩn đoán (nhóm Cephalosporin (Cefotaxime 4g/ngày) trong thời gian 7 – 10 ngày) phối hợp với truyền albumin và chọc tháo dịch màng bụng. Khoảng 1/3 trường hợp BN sẽ tiến triển suy thận, yếu tố dự báo nguy cơ tử vong. Vì thế, rất thận trọng sử dụng thuốc lợi tiểu và thuốc độc với thận.

Tiên lượng dài của BN xơ gan NTDCC là rất xấu, tỷ lệ tử vong đã được báo cáo là 50 – 70% trong một năm. Tỷ lệ tái phát sau một năm là 70%. Vì vậy, BN cần được điều trị dự phòng tái phát bằng kháng sinh đường uống, như Nofloxacin 400mg/ngày hoặc Ciprofloxacin 500mg/ ngày, tối thiểu 6 – 12 tháng. Đối với bệnh nhân có nguy cơ NTDCC cao như xuất huyết tiêu hoá, bệnh nhân xơ gan điều trị nội trú có protein dịch màng bụng <10g/l có thể cân nhắc dự phòng bằng Nofloxacin 400mg hoặc Ciprofloxacin 500mg * 2lần/ngày trong 7 ngày.

Hội chứng gan thận

Hội chứng gan thận, một biến chứng rất nặng của xơ gan, là tình trạng suy giảm chức năng thận do hậu quả của rối loạn chức năng tuần hoàn hệ thống (giãn các động mạch ngoài thận và co thắt động mạch thận, não và gan) dẫn đến giảm dòng máu động mạch tới thận gây suy thận (không phải do bệnh thận thực tổn). Yếu tố thúc đẩy dẫn đến hội chứng gan thận chủ yếu là tình trạng nhiễm trùng, đặc biệt là NTDCT. Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng gan thận cập nhật 2007 bao gồm:

- Xơ gan có dịch cổ chướng.

- Nồng độ Creatinine huyết thanh >133 mol/l

- Không giảm nồng độ creatinine huyết thanh xuống dưới mức 133 mol/l sau ít nhất 2 ngày dừng thuốc lợi tiểu và bồi phục thể tích tuần hoàn bằng truyền albumin

- Không có tình trạng sốc

- Không sử dụng các thuốc độc với thận.
                                                   


- Không có bệnh lý nhu mô thận (không có triệu chứng protein niệu >0.5g/ngày, hồng hậu niệu và/ hoặc bất thường thận trên siêu âm. Hội chứng gan thận có 2 tuýp. Tuýp 1 đặc trưng bởi suy thận tiến triển nhanh, có nồng độ creatinine tăng gấp đôi so với lúc đầu trong vòng 2 tuần, tới mức trên 226mol/l, tiên lượng rất xấu, tỷ lệ tử vong rất cao. Tuýp 2 đặc trưng bởi suy thận tiến triển từ từ, nồng độ creatinine máu trong khoảng 133 tới 226 mol/l, tiên lượng tốt hơn tuýp 1. Tuy nhiên, cũng là nguyên nhân thường gặp gây tử vong cho bệnh nhân ngoài các biến chứng nặng khác. Điều trị hội chứng gan thận còn gặp nhiều hạn chế. Thuốc điều trị hiện tại được chứng minh có tác dụng là Terlipressin phối hợp với truyền albumin, tuy nhiên cũng là để kéo dài thời gian chờ ghép gan.

Giãn tĩnh mạch thực quản, tĩnh mạch phình vị và biến chứng xuất huyết tiêu hóa
                             
Xơ gan có thể dẫn tới tăng áp lực tĩnh mạch (TM) cửa, hậu quả là hình thành một số tuần hoàn bàng hệ để máu từ tĩnh mạch cửa về tĩnh mạch chủ không qua gan, trong đó bàng hệ quanh thực quản, dạ dày là hay gặp nhất. Khoảng 40% bệnh nhân xơ gan giai đoạn Child A có giãn tĩnh mạch thực quản, tỷ lệ này tăng lên theo mức độ nặng nhẹ của xơ gan, ở giai đoạn xơ gan Child C là 85%, Nếu bệnh nhân chưa có giản tĩnh mạch, tỷ lệ xuất hiện búi giãn là 8%/năm. Bệnh nhân có búi giãn nhỏ có tỷ lệ tăng kích thước búi giãn lớn hơn khoảng 8%/năm. Nguy cơ vỡ búi giãn hàng năm khoảng 5 - 15%, tỷ lệ cao đối với búi giãn lớn độ III. Khi đã vỡ búi giãn, tỷ lệ tử vong trong 6 tuần đầu là 20%. Tỷ lệ tái phát xuất huyết trong 1 – 2 năm là 60% nếu bệnh nhân không được điều trị.

Tất cả bệnh nhân mới chẩn đoán xơ gan phải nội soi dạ dày để phát hiện và đánh giá tình trạng giãn tĩnh mạch thực quản và dạ dày. Trên nội soi, giãn tĩnh mạch thực quản được chia làm 3 độ tăng dần theo kích thước búi giãn. Lưu ý các dấu hiệu báo động nguy cơ vỡ cao: dấu hiệu đỏ trên búi giãn, có kèm viêm thực quản trào ngược, có loét… Giãn tĩnh mạch dạ dày gồm 2 loại: Giãn tĩnh mạch thực quản - dạ dày là sự kéo dài của búi giãn tĩnh mạch thực quản và giãn tĩnh mạch dạ dày đơn độc.

Đối với bệnh nhân không có giãn tĩnh mạch thực quản, dạ dày, nếu xơ gan còn bù nên nội soi định kỳ kiểm tra cách 3 năm; nếu xơ gan mất bù, nội soi kiểm tra định kỳ hàng năm. Bệnh nhân xơ gan có búi giãn nhỏ chưa từng chảy máu nhưng có dấu hiệu nguy cơ chảy máu, cần sử dụng thuốc chẹn beta giao cảm không chọn lọc để dự phòng xuất hiện vỡ búi giãn tĩnh mạch lần đầu. Bệnh nhân có búi giãn nhỏ chưa từng chảy máu và không có dấu hiệu nguy cơ chảy máu, có thể sử dụng thuốc chẹn beta giao cảm hoặc không; nếu bệnh nhân không dùng thuốc, cần kiểm tra cách 2 năm, hoặc hàng năm nếu có triệu chứng xơ gan mất bù.

Đối với bệnh nhân có búi giãn trung bình và lớn, chưa từng xuất huyết nhưng có nguy cơ vỡ cao, thuốc chẹn beta giao cảm không chọn lọc (propranolol) hoặc thắt búi giãn tĩnh mạch bằng vòng cao su được khuyến cáo để ngăn ngừa xuất huyết lần đầu. Đối với bệnh nhân không có nguy cơ vỡ cao, thuốc chẹn beta giao cảm được ưu tiên sử dụng hơn, và thắt búi giãn tĩnh mạch bằng vòng cao su hoặc tiêm xơ búi giãn được chỉ định cho bệnh nhân có chống chỉ định hoặc không dung nạp thuốc chẹn beta. Bệnh nhân sử dụng thuốc chẹn beta, cần phải được tăng dần liều cho tới liều hiệu quả, nghĩa là phải giảm được 25% tần số tim của bệnh nhân lúc nghỉ. Nếu điều trị bằng thắt tĩnh mạch thực quản bằng vòng cao su hoặc tiêm xơ búi giãn, nội soi nên được tiến hành lại sau 2 – 3 tuần để thắt hoặc tiêm xơ tiếp cho triệt để, sau đó nội soi kiểm tra định kỳ cứ 3 – 6 tháng.

Bệnh nhân xơ gan có xuất huyết tiêu hoá là một cấp cứu. Bệnh nhân sẽ được bù dịch và máu để đảm bảo huyết động, nội soi can thiệp cắt búi giãn vỡ tĩnh mạch thực quản bằng vòng cao su hoặc tiêm xơ cầm tĩnh mạch phình vị kết hợp các thuốc làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa (somatostatin, octreotide…) và dự phòng các biến chứng khác (hôn mê gan, NTDCT). Những bệnh nhân sống sau lần xuất huyết đầu tiên sẽ phải được điều trị dự phòng tái xuất huyết tiêu hoá bằng phối hợp thuốc chẹn beta giao cảm và nội soi can thiệp. Các kỹ thuật nội soi can thiệp phải được lặp lại sau 2 – 3 tuần cho đến khi hết búi giãn, sau đó nội soi kiểm tra định kỳ cứ 6 – 12 tháng. Một số bệnh nhân tái phát xuất huyết nhiều lần có thể cân nhắc làm cầu nối cửa – chủ bằng phẫu thuật.

Bệnh lý não gan

Bệnh lý não – gan là biến chứng thần kinh nặng của xơ gan, nó ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống. Bệnh được định nghĩa là các bất thừơng về thần kinh tâm thần gặp ở bệnh nhân xơ gan sau khi đã loại trừ các bệnh lý tại não. Bệnh lý não – gan được chia làm 4 giai đoạn:

Giai đoạn 0: Không có bất thường

Giai đoạn 1: Giảm nhận thức, lo lắng, mất tập trung.

Giai đoạn 2: Thờ ơ, mất định hướng thời gian, thay đổi tính cách rõ rệt, hành vi không thích hợp.

Giai đoạn 3: Ngủ gà nhưng còn đáp ứng với các kích thích, lẫn lộn, mất định hướng toàn thể, có hành vi bất thường.
                             
Giai đoạn 4: Hôn mê, các test thần kinh không đáp ứng. Các test tâm tý thường được sử dụng để phát hiện bệnh lý não – gan tối thiểu (test nối số…). Các bệnh nhân xơ gan có biểu hiện của bệnh lý não – gan tối thiểu cần được tư vấn tránh các công việc cần sự tập trung cao. Những trường hợp hôn mê gan, cần phải được điều trị chăm sóc tích cực, giảm lượng protein trong chế độ ăn trong những ngày đầu và nuôi dưỡng bằng Glucose đường tĩnh mạch giảm sự hấp thu các hợp chất chứa nitơ từ đường tiêu hoá bằng thuốc Lactulose và kháng sinh đường ruột (Metronidazole hoặc Ciprofloxacin), tìm và xử trí các yếu tố thúc đẩy bệnh xuất huyết tiêu hoá, tình trạng nhiễm trùng, suy thận và rối loạn điện giải, quá liều các thuốc an thần, suy giảm đột ngột chức năng gan… Sau khi bệnh nhân qua được tình trạng hôn mê cấp, cần điều trị bệnh lý não – gan mạn tính bằng cách tránh và dự phòng các yếu tố nguy cơ, đảm bảo chế độ dinh dưỡng hợp lý tránh suy dinh dưỡng, sử dụng Lactulose hàng ngày liều 2 – 3 gói/ngày sau cho bệnh nhân đi ngoài phân mềm khoảng 2 -3 lần/ngày.
Xem tiếp…

NGUYÊN NHÂN VÀ TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH XƠ GAN CỔ CHƯỚNG

13:21 |
Xơ gan : là một dạng của suy gan trong đó mô gan bị tổn thương được thay bằng mô sẹo. Khi có nhiều mô gan bị mất đi thì suy gan diễn ra. Nguyên nhân thường gặp là do rượu, vi rút, hoặc bệnh gan nhiễm mỡ
Suy gan cấp tính có thể dẫn đến cổ trướng.
Hội chứng budd – Chiari do tắc nghẽn của tĩnh mạch gan. Gay ra 3 chứng : cổ trướng, đau bụng, , phì đại gan lách

Ung thư có di căn hoặc lan sang gan cũng có thể là nguồn gốc của cổ trướng
                                           
Tại sao bệnh gan gây ra bụng chướng và phù ?

Ở bệnh nhân bị bệnh gan mãn tính ,chứng xơ hoá gan thường xảy ra và có thể dẫn đến xơ gan . Cổ trướng là chất lỏng quá độ tích luỹ trong khoang màng bụng . Nó là biến chứng của xơ gan và xuất hiện như phình ra bụng. Phúc mạc là lớp bên trong của ổ bụng, cũng nếp trên để bao bọc cơ quan bên trong bụng như là gan, túi mật, lách, tụy, và ruột. Cổ trướng phát triển vì kết hợp của hai yếu tố :

tăng áp suất trong hệ tĩnh mạch mang máu từ dạ dày, ruột, và lách đến gan ( tang huyết áp kịch phát ) ; và

giảm albumin trong máu. Albumin là protein nổi bật trong máu và mà giúp duy trì thể tích máu, bị giảm xuống trong xơ gan chủ yếu vì gan bị tổn thương không thể tạo ra đủ của nó.

Hậu quả khác của tăng huyết áp kịch phát bao gồm giãn tĩnh mạch trong thực quản , tĩnh mạch nổi bật trên bụng, và lách sưng to. Mỗi một bệnh này là chủ yếu do tăng áp suất và tụ máu và chất lỏng dư thừa trong mạch máu bụng.

Phù ngoại vi, thường thấy rằng khi nốt lõm phù của chân và bàn chân, cũng xảy ra trong xơ gan. Phù là hậu quả của giảm albumin huyết tươngvà thận giữ nước và muối.

Nguyên nhân của cổ trướng ngoài gan bao gồm

Suy tim : cơ tim không bơm đủ dịch vào trong mạch máu. Suy tim có thể gây ra nhiều vấn đề, nhưng đáng chú ý nhất, dịch trở lại phổi và những cơ quan khác làm suy chúng. Dịch này có thể gây rò rỉ và khoang màng bụng và gây ra cổ chướng.
Hôi chứng hư thận : làm protein rò rỉ vào nước tiểu , giảm áp suất thẩm thấy keo và có thể dẫn đến cổ trướng
Rối loạn của tuỵ : có thể dẫn đến cổ chướng bằng nhiều cách. Viêm tuy cấp tính có thể gây ra tích tụ dịch như một phần củ aphản ứng viêm . Viêm tuỵ mạn có thẻ dẫn đến suy dinh dưỡng, dẫn đến giảm protein toàn cơ thể, mất áp suất thẩm thấu keo , cổ trướng. Ung thư tuyến tụ có thể gây ra mất chất lỏng trực tiếp
Kích thích trực tiếp phúc mạc có thể làm rò rỉ chất lỏng như một phần của quá trình viêm. Kích thích này có thể là do ác tính ( ung thư) haowjc nhiễm trùng
Bệnh của buồng trứng gắn liền với cổ trướng. Bệnh ung thư buồng trứng không có dấu hiệu ban đầu, nhiều phụ nữ sẽ có chuẩn đoán lầm vì chúng phát triển cổ trướng. Hội chứng Meigs là một u lành của buồng trứng gọi là u xơ. Nó hiện diện với cổ chướng và tràn dịch màn phổi . Bề mặt căng cứng của khối u buồng trứng có thể gây ra kích thích phúc mạc đáng kể, làm cho nó rò rỉ cháat lỏng
Cổ trướng được tìm thấy một cách khác thường trong suy giáp. Thường suy giáp không được điều trị trong một thời gian dài , và cổ trướng mất đi khi tuyến giáp trở lại bình thường
Xem tiếp…

THUỐC NAM ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ BỆNH XƠ GAN CỔ CHƯỚNG

13:19 |
Y học cổ truyền cho rằng bệnh xơ gan có liên quan đến 3 thể bệnh gồm can khí ứ trệ, can huyết ứ tắc và thủy thấp ứ đọng. Trên lâm sàng bệnh có thể chia thành 3 thời kỳ (đầu, giữa, cuối) mà có những món ăn - bài thuốc tương ứng.
                                                               

Thời kỳ đầu: Triệu chứng lâm sàng thường không rõ hoặc rất nhẹ, chủ yếu là rối loạn tiêu hóa như ăn không ngon, tiêu lỏng, người bệnh thấy mệt mỏi, đau nhẹ, hơi tức vùng bụng trên bên phải hoặc đầy bụng, nôn hoặc buồn nôn. Khám gan có thể thấy hơi to, có bệnh nhân bị lách to. Chức năng gan bình thường hoặc hơi suy giảm, khám kỹ có thể phát hiện điểm ứ huyết, mạch sao.

 Bài thuốc nam điều trị xơ gan cổ chướng :

+ Thương truật: 12g + Phục linh: 12g

+ Mộc hương: 6g + Kim tiền thảo: 16g

+ Đùm đũm: 16g + Hậu phác: 12g

+ Trạch tả: 12g + Đương quy: 12g

+ Nhụ quế: 4g + Hoàng bá: 8g

 Điều trị xơ gan cổ chướng bằng thực phẩm :

Nếu người bệnh nhân thận hư thì dùng Bạch mao can, Hoàng liên, quả dứa dại (tuỳ theo từng trường hợp mà gia giảm).

Cỏch dùng: Sắc ngày uống 1 thang (uống thay nước hàng ngày).Chè đảng sâm - sa nhân - đại táo: Đảng sâm 20g, sa nhân 10g (bọc trong túi vải), đại táo 5 quả, gạo 60g, đường trắng với lượng vừa. Nấu chè.

Chè phật thủ - phục linh: Phật thủ 15g, phục linh 15g, gạo 100g, đường phèn với lượng vừa. Sắc lấy nước thuốc bỏ bã, cùng gạo nấu chè, khi chín nêm đường phèn. Mỗi ngày 1 lần.

Bánh đậu tằm: Đậu tằm 250g, đường đen 150g. Đậu tằm sau khi dùng nước ngâm nở, bỏ vỏ. Cho vào nồi áp suất, nấu cho đến chín nhừ, nêm vào đường đen, khuấy thành hồ đặc, chờ nguội, cho vào thau, ép phẳng cất thành từng bánh, mỗi lần 30g, mỗi ngày 2 lần.

Thời kỳ toàn phát: Chức năng gan suy giảm rõ. Lâm sàng biểu hiện triệu chứng rối loạn tiêu hóa, mạn sườn bên phải đau rõ, sụt cân, da sạm, có bệnh nhân vàng da, vàng mắt, điểm ứ huyết, mạch sao ở mặt, ngực, tay, vai, cổ... hoặc có hiện tượng giãn mao mạch, bàn tay, đầu ngón tay đỏ mập lên, chân răng, mũi, trĩ xuất huyết, tiêu có máu, phụ nữ kinh nguyệt nhiều kéo dài, hoặc có triệu chứng hoa mắt, chóng mặt, tim hồi hộp, ít ngủ, chân tay tê dại, ngứa, tiểu ít hoặc tiểu khó, cổ chân phù, bụng có nước nhẹ. Khám gan thấy có thể eo nhỏ hoặc to dưới bờ sườn, bờ sắc cứng.

Canh dưa leo nấu giấm: Dưa leo 250g, giấm với lượng vừa. Dưa leo cắt lát, giấm và nước với hai phần bằng nhau, sau khi nấu nhừ dùng canh ăn dưa, mỗi ngày 1 lần.

Chè đào nhân (nhân hạt đào): Nhân hạt đào 15g lột vỏ giã nát, gạo 60g. Nấu chè, nêm đường đen.

Canh tô mộc nấu trứng vịt: Tô mộc 15g, trứng vịt 2 quả. Luộc trứng chín, lột vỏ, rồi cùng tô mộc nấu trong 30 phút, dùng canh ăn trứng.

Tam bì ẩm: Vỏ bí đao 50g, vỏ dưa chuột 50g, vỏ dưa hấu 50g. Ba thứ cùng cho vào nồi thêm nước nấu, dùng uống thay trà. Thích hợp dùng cho người bệnh báng bụng nhẹ, bí tiểu và có thể dùng chung với các món ăn khác.

Canh giò heo nấu xích tiểu đậu: Giò heo (trước) 250g, xích tiểu đậu (đậu đỏ nhỏ hột) 200g. Dùng lửa lớn nấu sôi, rồi dùng lửa nhỏ, hầm cho đến khi thịt mềm. Mỗi ngày 1 lần. Món canh có đặc điểm tiêu phù thũng, thanh thấp nhiệt mà không gây thương tổn lá lách.

Thời kỳ cuối: Đây là giai đoạn nghiêm trọng của chức năng gan, thời kỳ mất bù, bụng to như trống (cổ trướng), da bụng báng, tuần hoàn bàng hệ, rốn lồi. Tiểu ít hay vô niệu, khó thở, người gầy, sắc mặt sạm tối, da mặt vàng đậm, bệnh nặng có xuất huyết tiêu hóa, tinh thần lờ đờ, buồn ngủ hoặc hưng phấn, hốt hoảng, hôn mê gan...

Canh râu bắp nấu rùa: Râu bắp 60g, rùa 1 con bỏ nội tạng, rửa sạch. Thêm nước nấu chín mềm, nêm gia vị, dùng canh ăn thịt.

Bột thuốc từ rùa - ba ba - tê tê: Mai ba ba (miết giáp) 300g, mai rùa (quy bản) 200g, vẩy tê tê (xuyên sơn giáp) 100g, tất cả cùng tán bột mịn sử dụng sau. Mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 5g dùng uống với canh thêm đường sau bữa ăn. Nếu có táo bón, có thể uống với mật ong.

Canh cá trích - xích tiểu đậu - thương lục: Cá trích 250g, xích tiểu đậu (đậu đỏ nhỏ hột) 150g, thương lục 3g. Nấu canh. Mỗi ngày 1 lần.

Cháo cá chép - tỏi - bo bo: Cá chép 250g, bo bo (ý dĩ) 30g, tỏi 15g, gạo với lượng vừa. Nấu cháo.

Cháo ích mẫu tươi: Nước vắt lá ích mẫu tươi 10ml, nước vắt củ sanh địa tươi 40ml, gừng tươi 20g, mật ong 10ml, gạo 100g. Gạo nấu cháo, khi chín thêm vào nước thuốc nêu trên cùng với mật ong, nấu lại giây lát, mỗi ngày 1 lần.

Cháo vịt: Thịt vịt đực 250g, gạo 100g ; thịt vịt cắt lát, gạo vo sạch, cùng cho vào nồi thêm nước nấu cháo, nêm gia vị, mỗi ngày 1 lần.
Xem tiếp…

NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ BỆNH XƠ GAN

07:46 |
Xơ gan được định nghĩa về giải phẩu học là sự hình thành nodule và fibrosis lan toả. Tiếp theo sau đó là hoại tử tế bào gan, mặc dù nguyên nhân thì có rất nhiều nhưng hậu quả thì giống nhau.

Fibrosis không đồng nghĩa với Xơ gan:

- Fibrosis có thể xảy ra trong suy tim, trong tắc ngẽn ống mật và fibrosis gan bẩm sinh hoặc trongvùng gian thuỳ trong bệnh gan nhiễm hạt – mà không hề có xơ gan thật sự!

- Sự hình thành nodule không kèm fibrosis gặp trong bệnh chuyển đổi từng phần sang thể nodule, cũng không phải là xơ gan

- Có sự liên quan giữa viêm gan mãn và xơ gan

Nguyên nhân xơ gan:

1. Do siêu vi B,C,D

2. Rượu

3. Do chuyển hóa: vd như: hemochromatosis, bệnh Wilson , thiếu men α-antitrypsin

4. Bệnh đường mật kéo dài

5. Nghẽn tỉnh mạch gan: vd: $ Budd-Chiari

6. Rối loạn miễn dịch: vd: viêm gan dạng lupoid

7. Độc chất: vd: Methotrexate, Amiodarone

8. Phẫu thuật bypass ở đường ruột

9. Suy dinh dưỡng, nhiễm trùng.

10. Bẩm sinh

Chẩn đoán xơ gan:

Ngoài các dấu hiệu đi kèm trong bệnh nguyên nhân, hai biểu hiện chính trong xơ gan là: suy tế bàogan, tăng áp lực tỉnh mạch cửa. Điều trị và tiên lượng phụ thuộc vào mức độ hai yêu tố này.

1. Lâm sàng:

-Mệt , sụt cân
-Chán ăn , rối loạn tiêu hóa
-Đau bụng
-Vàng da
-Phù chân , báng bụng
-Xuất huyết mũi , răng , da, đường tiêu hóa
-Giảm ham muốn tình dục

2. Tiền căn:

- Có vàng da

- Viêm gan

- Có dùng thuốc ảnh hưởng gan

- Có truyền máu

- Uống rượu

- Có người trong gia đình bị bệnh gan

3. Khám:

Sốt , vàng da, nổi mẩn, thay đổi sắc tố da, ngón tay dùi trống , móng tay trắng, sao mạch , lòng bàn tay son , chứng vú to , teo tinh hoàn ở đàn ông , báng bụng , gan lách to ,phù chân , rối loạn tâm thần , run cơ…vv

4. Xét nghiệm máu:

- Giảm hemoglobin, hồng cầu , bạch cầu, tiểu cầu , thời gian đông máu kéo dài
- Tăng bilirubin, men transaminase , phosphatase kiềm , giảm albumin
- Thay đổi ion đồ
- Tăng AFP
- Hiện diện các marker viêm gan
- Các kháng thể tự miễn.

5. Chẩn đoán hình ảnh:

- Siêu âm

- Nội soi

- CT.

Tiên lượng:

Những điễm có ích khi tiên lượng :

- Nguyên nhân: Xơ gan do rượu thường đáp ứng tốt hơn xơ gan không biết nguyên nhân
- Nếu xơ gan mất bù theo sau một xuât huyết, nhiễm trùng hay nghiện ruợu thì tiên lượng tôt hơn là xảy ra đột ngột vì các yêu tố thúc đẩy trên có thể điều chỉnh được.
- Đáp ứng điều trị: nếu bn không đáp ứng với điều trị khi nhập viện 1 tháng xem như tiên lượng kém
- Vàng da kéo dài là dấu hiệu nặng
- Biến chứng thần kinh: tiên lượng tốt hay xấu tùy thuộc cách xuất hiện các dấu thần kinh, liên quan đến suy tế bào gan thì tiên lượng xấu
- Cổ chướng nặng( cần dùng nhiều lợi tiểu) tiên lượng nặng.
- Gan: Gan lớn tiên lượng tốt hơn gan nhỏ
- Xuất huyết từ dãn Tm thực quản: Tiên lượng xấu
- Albumin máu <2.5g/l: tiên lượng xấu. Men gan và globulin không có giá trị tiên lượng.
- Biễu hiện thời gian Prothrombin kéo dài duy trì lâu trên lâm sàng: tiên lượng kém!
- Giảm HA kéo dài: tiên lượng xấu!
- Thay đổi mô học tế bào gan: theo dõi để đánh giá mức độ hoại tử và viêm tế bào gan.

Tóm lại: Tiên lượng được quyêt định bởi mức độ của suy tế bào gan. Vàng da, vết bầm tự nhiên, và cổ chướng không đáp ứng điều trị là những dấu hiệu nặng!

Điều trị:

Điều trị xơ gan còn bù tốt chủ yếu nhằm vào phát hiện sớm các biểu hiện suy tế bào gan. Chế độ ăn cân bằng và tránh rượu là chủ yếu.

- Một chế độ ăn gồm 1g Protein/1kg cân nặng là đủ trừ phi bệnh nhân có suy dinh dưỡng nặng!

- Thêm Methionin hoặc các chất bảo vệ gan vào điều trị là không cần thiết.

- Hạn chế Na , dùng lợi tiểu

- Dùng lactulose , không để bón

- Ngừa xuất huyết tiêu hóa:propranolol …vv

Thuốc chống xơ:

- colchicine

- Corticoids dùng trong viêm gan tự miễn

- Một số thuốc khác đang nghiên cứu: HOE 077

Phẫu thuật: tất cả các phẫu thuật ở bệnh nhân xơ gan đều có nguy cơ cao và tỉ lệ tử vong cao! Tham khảo phân độ Child’s:

- Tử vong 10% ở đô A

- 31% – độ B

- 76% – độ C
Xem tiếp…