CHỮA TRỊ VIÊM GAN B HIỆU QUẢ BẰNG ĐÔNG Y

11:29 |
Ở Việt Nam, viêm gan cấp, bán cấp chủ yếu là do virus, tuy có sự khác nhau về tác nhân gây bệnh, dịch tễ học, bệnh học và tiến triển, nhưng trên lâm sàng thường có các triệu chứng và hội chứng tương đối giống nhau.
                  
                                     

Về tác nhân gây bệnh có thể do các loại virut A, B, C, D và F gây nên. Các bệnh viêm gan này đều được gọi chung là viêm gan virut.

Về đường lây viêm gan virut A, F lây chủ yếu theo đường tiêu hóa; virut B, C, D lây chủ yếu theo đường máu, do tiêm chích, đôi khi còn có thể lây theo đường nước bọt hay đường sinh dục hoặc lây truyền từ mẹ sang con qua rau thai. Tuy có sự khác nhau về đường lây và phương thức lây truyền, nhưng tất cả các bệnh viêm gan virut đều có đặc điểm chung là một bệnh truyền nhiễm, tức là có khả năng lây từ người bệnh sang người lành hoặc từ một người lan sang cả một cộng đồng người.

Về triệu chứng lâm sàng tuy có sự khác nhau do các tác nhân khác nhau gây nên, nhưng nhìn chung bệnh viêm gan virut điển hình đều có 4 giai đoạn:

Thời kỳ nung bệnh: Bệnh nhân không hề cảm thấy có triệu chứng gì khác thường.

Thời kỳ khởi phát (tiền vàng da) kéo dài từ 4 - 10 ngày, có các dấu hiệu chính như sốt nhẹ, mệt mỏi nhiều mặc dù không sốt cao, có dấu hiệu giả cúm và dấu hiệu rối loạn tiêu hóa. Lúc này xét nghiệm sẽ thấy men gan tăng cao hoặc rất cao, thường gấp trên 10 lần lúc bình thường, có khi tới trên 100 lần.

Thời kỳ toàn phát (vàng da) triệu chứng vàng da rõ ràng nhất, da vàng, mắt vàng, nước tiểu vàng sẫm, có thể kèm sốt cao hoặc sốt vừa. Ngoài ra bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi tăng hơn trước, rối loạn tiêu hóa, chán ăn đặc biệt sợ mỡ. Xét nghiệm trong giai đoạn này không phải để chẩn đoán mà chủ yếu để tiên lượng bệnh, do đó cần thăm dò 4 hội chứng của gan: Hội chứng hủy hoại tế bào gan, hội chứng ứ mật, hội chứng viêm và hội chứng suy tế bào gan.

Thời kỳ lui bệnh được biểu hiện bằng đi tiểu nhiều, tới 2 - 3 lít mỗi ngày, nước tiểu màu nhạt dần và vàng da cũng đỡ dần, bệnh nhân ăn uống ngon miệng, xét nghiệm sinh hóa cho thấy chức năng gan phục hồi dần. Tuy nhiên, ở một số người, vẫn mệt mỏi kéo dài, ăn uống khó tiêu, cảm giác ấm ách vùng thượng vị hoặc đau tức, nằng nặng vùng hạ sườn phải.

Đối với viêm gan B, xuất hiện kháng thể HBs Ag. Nếu xét nghiệm thấy HBs Ag kéo dài quá 4 tháng, phải nghĩ đến viêm gan mạn tính sau viêm gan virut B.

Về ăn uống, trong thời kỳ bị bệnh không nên ăn mỡ, ăn nhiều đường, ăn nhiều hoa quả tươi. Sau bị bệnh, ăn trở lại bình thường dần dần, nhưng rượu bia thì phải kiêng tuyệt đối ít nhất 6 tháng sau khi khỏi bệnh.

Về điều trị, cho đến nay Tây y vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu viêm gan virut. Song cả Tây y và Đông y đều cho rằng, nghỉ ngơi là rất cần thiết đối với bệnh viêm gan virut: Cần nằm nghỉ tuyệt đối trong thời gian vàng da và nghỉ dưỡng sức ít nhất 15 ngày sau khi hết vàng da, sau đó lao động vừa sức tăng dần để trở lại lao động bình thường.

Đối với bệnh viêm gan virut nói riêng, viêm gan vàng da nói chung, Đông y có nhiều bài thuốc chữa rất có hiệu quả. Đây không phải là những bài thuốc đặc trị theo từng loại bệnh mà chính là tăng cường chức năng gan, lập lại cân bằng, giúp chức năng gan trở lại trạng thái bình thường.

Đông y không phân thành bệnh viêm gan mà gọi chung là hoàng đản (chứng vàng da). Theo y văn, hoàng đản nguyên nhân chủ yếu do thấp nhiệt uất kết trong tỳ vị, ảnh hưởng đến can, sinh ra mắt vàng, mặt vàng rồi đến toàn thân đều vàng, nước tiểu vàng sẫm. Nếu độc khí của thấp nhiệt lưu lại không tiêu được sẽ làm cho càng ngày càng ăn kém, gan càng ngày càng to. Về phân loại, Đông y phân ra hai chứng hoàng đản: Dương hoàng và âm hoàng.

Dương hoàng: biểu hiện mặt, mắt vàng tươi sáng như màu quả quýt, da vàng nhuận, bệnh nhân cảm giác lợm giọng, nôn ọe, vùng thượng vị đau tức, nước tiểu đỏ và sẻn, có sốt, thân thể mệt mỏi, tinh thần uể oải, ăn kém, rêu lưỡi vàng nhờn, hoặc trắng mỏng, chất lưỡi đỏ.

Phép chữa là thanh nhiệt, lợi thấp.

Bài thuốc: Nhân trần 30g, vọng cách 20g, chi tử 10g, vỏ đại (sao vàng) 10g, ý dĩ 30g, thần khúc 10g, actisô 20g, cuống rơm nếp 10g, nghệ vàng 20g, mã đề 12g, mạch nha 16g, cam thảo nam 8g. Tất cả cho vào ấm đất với 500ml nước, sắc còn 150ml, chắt ra, cho nước sắc tiếp, lấy thêm 100ml, trộn chung cả hai lần, chia đều uống trong ngày, uống trước các bữa ăn. Uống liền 7 - 10 ngày.

Âm hoàng: Có triệu chứng mặt, mắt và da vàng hãm tối, bụng đầy, rối loạn tiêu hóa, vùng thượng vị, trung vị, hạ vị đều đau tức, không sốt, thân thể mệt mỏi, rêu lưỡi trắng mỏng, hoặc hơi vàng trơn, chất lưỡi nhợt nhạt.

Phép chữa là ôn hóa hàn thấp.

Bài thuốc: Nhân trần 30g, vọng cách 20g, gừng khô 8g, quế thông 4g, ý dĩ 30g, thần khúc 10g, actisô 20g, cuống rơm nếp 10g (sao), nghệ vàng 20g, củ sả 8g, mạch nha 16g, cam thảo nam 8g (sao). Sắc uống như bài trên.

Về phòng bệnh, hiện nay đã có vaccin của một số viêm gan virut nên tốt nhất là tiêm phòng. Phòng bệnh không đặc hiệu cần vệ sinh sạch sẽ, tạo thành thói quen rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và hết sức thận trọng khi truyền máu, truyền dịch, châm cứu, tiêm chích hoặc làm các thủ thuật khác như nhổ răng, phẫu thuật...

Đề phòng từ viêm gan cấp chuyển sang mãn tính bằng cách nghỉ ngơi, phù hợp khi bị bệnh, uống các bài thuốc Đông y nêu trên, lao động vừa sức, ăn uống hợp lý và đặc biệt phải kiêng rượu, bia ít nhất là nửa năm sau khi bệnh đã khỏi.

http://www.bacsibenhgan.com/2013/10/trieu-chung-va-thuoc-chua-tri-benh-viem-gan-b-hieu-qua.html
Xem tiếp…

SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC TIÊM VẮC XIN VIÊM GAN B SAU KHI SINH

07:05 |
Ung thư gan là căn bệnh đáng sợ vì diễn tiến rất thầm lặng, giai đoạn đầu thường không có triệu chứng gì nên không được chẩn đoán và điều trị sớm. Nhưng khi có biểu hiện rõ thì thường đã quá muộn và hiệu quả điều trị kém. Theo các chuyên gia, ung thư gan không phải hiếm gặp mà là một loại ung thư thường gặp, diễn tiến tới tử vong rất nhanh, thường trung bình chỉ từ 1 đến 6 tháng sau khi phát hiện bệnh nếu không được điều trị.

Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ viêm gan B cao nhất thế giới: 20% (một phần năm dân số). Bệnh viêm gan siêu vi B là nguyên nhân hàng đầu của ung thư gan. 25% bệnh nhân mắc phải siêu vi B sẽ đi vào biến chứng xơ gan, ung thư gan nếu không điều trị. 100% ung thư gan ở trẻ em là do viêm gan B.

Ở trẻ em Việt Nam, tỷ lệ bị mắc viêm gan B vào khoảng từ 13-18%. Chủ yếu các em bị lây nhiễm theo chiều từ mẹ sang con trong quá trình chuyển dạ.

Sự cần thiết của việc tiêm vắc-xin viêm gan B sau khi sinh

Theo khuyến cáo của các chuyên gia, việc tiêm vắc-xin viêm gan B ngay trong vòng 24h đầu sau sinh là rất cần thiết, bởi nếu tiêm sớm hiệu quả bảo vệ càng cao. Việc tiêm sớm càng có ý nghĩa hơn khi tỷ lệ lưu hành virus viêm gan B tại Việt Nam khá cao, 10-20% dân số.

PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, BV Bạch Mai cho biết, tiêm vắc-xin viêm gan B trong 24 giờ đầu sau khi sinh, thậm chí cả khi mẹ bị nhiễm virus, sẽ phòng được khoảng 85% nguy cơ nhiễm bệnh ở trẻ sơ sinh. Trong khi nếu mẹ có virus viêm gan B, thì 90% trẻ sinh ra sẽ bị lây. Nhiễm virus viêm gan B có thể dẫn đến xơ gan và ung thư gan sau đó. Khi đó, việc điều trị không chỉ tốn kém, lâu dài mà cũng rất nguy hiểm cho tính mạng trẻ.

Việc tiêm vắc-xin viêm gan B trong vòng 24h đầu sau sinh cũng là khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO). WHO đánh giá vắc-xin viêm gan B là một trong những vắc xin an toàn, không có chống chỉ định, có chống chỉ định, trẻ sinh non, sinh thiếu cân… cũng có thể tiêm được.

Có nên tiêm vắc-xin viêm gan B cho trẻ?

Sau khi xảy ra sự cố 3 trẻ ở Quảng Trị tử vong sau tiêm vắc xin có nhiều ý kiến khác nhau về việc tiêm vắc-xin viêm gan B cho trẻ sau khi sinh, có ý kiến cho rằng để trẻ tròn 1 tháng tuổi, khi trẻ đã cứng cáp hơn, cha mẹ có thể tự đưa trẻ đi tiêm vắc xin viêm gan B mũi đầu tiên, có ý kiến cho rằng nên lùi thời gian tiêm mũi đầu tiên viêm gan B cho trẻ, không nhất thiết phải tiêm trong vòng 24h đầu sau sinh.

Trong khi có nhiều ý kiến khác nhau, nhiều người dân đặc biệt là các là sản phụ thấy rất hoang mang và băn khoăn rằng có nên cho con tiêm gan B ngay sau khi sinh?

Tiến sĩ Viên Quang Mai, Phó Viện trưởng Viện Pasteur Nha Trang (Bộ Y tế) cho biết, việc tiêm phòng viêm gan B cho trẻ sơ sinh trong vòng 24 giờ là việc làm cần thiết bởi đã được nghiên cứu và Tổ chức Y tế thế giới đã thực hiện thành công ở nhiều nước trên thế giới. Tổ chức Y tế Thế giới cũng khuyến cáo Việt Nam phải thực hiện đúng quy trình trong vòng24 giờ sau khi sinh, bởi tạo cho trẻ con hiệu quả miễn dịch cao.

Quá trình nghiên cứu, rất nhiều nghiên cứu trên thế giới, người ta mới đưa ra khuyến cáo là nên tiêm cho các cháu trong vòng 24 giờ sau khi sinh.

Trong khi người dân hết sức hoang mang lo lắng bởi không biết có nên tiếp tục tiêm vaccine viêm gan B cho trẻ sau khi sinh hay không, tiêm ở đâu thì an toàn, PGS.TS Phạm Nhật An, Phó Giám đốc BV Nhi Trung ương khuyến cáo, để giảm thiểu nguy cơ gặp tai biến sau tiêm chủng, các bậc phụ huynh trước khi đưa con đi tiêm chủng cần tìm hiểu kỹ để biết được lợi ích cũng như các tác dụng phụ và tai biến có thể xảy ra khi tiêm chủng. Thứ hai, cần biết lịch tiêm chủng để có thể cho trẻ đi tiêm chủng đúng thời hạn (tác dụng phòng bệnh đạt hiệu quả cao hơn) và các trường hợp trì hoãn hoặc không có chỉ định tiêm chủng. Thứ ba, khi cho trẻ đi tiêm chủng phải bảo đảm trẻ không có vấn đề gì về bệnh tật, sức khỏe (nếu có thì cần được tư vấn của bác sĩ trước khi tiêm phòng).

Cũng theo PGS.TS Phạm Nhật An, để phòng tai biến nguy hiểm có thể xảy ra sau tiêm chủng, tại các địa điểm tiêm chủng cần được trang bị các hộp chống sốc và trang thiết bị xử lý tai biến. Trẻ sau tiêm chủng cần được theo dõi sức khỏe để phát hiện sớm các tai biến và điều trị kịp thời.

Theo ước tính của WHO, tỷ lệ tai biến sau tiêm là 1-2 trong một triệu liều, rất thấp trong khi các loại vắc-xin khác tỷ lệ có thể lên tới 2-5 trên triệu liều. Tiêm vắc xin viêm gan B có thể gây phản ứng thông thường như đau tại chỗ (3-9%), sốt trên 37,7 độ C và sốc phản vệ nhưng chỉ khoảng 1/600.000 liều.

Xem tiếp…

THUỐC TÂY ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN B

06:41 |
Từ khi B. Blumberg phát hiện “kháng nguyên Úc châu” đến nay, những nghiên cứu trong hơn 2 thập kỷ tiếp theo đã xác định rõ cấu trúc của virut viêm gan B (HBV) làm cơ sở cho các nghiên cứu về diễn tiến, điều trị và triển khai thuốc chủng ngừa HBV.
                                                       
Việc theo dõi diễn tiến cấp và mạn tính của viêm gan do HBV dựa trên các chỉ dẫn nhiễm HBV như các cặp kháng nguyên – kháng thể HBs, Hbe; anti-HBc, HBV-DNA; các khảo sát mô bệnh học, khảo sát siêu âm.
Các chỉ dẫn nhiễm HBV và các khảo sát nêu trên sẽ giúp xác định giai đoạn và mức độ tổn thương của gan, đặc biệt là trong giai đoạn mạn tính của viêm gan sẽ giúp các nhà lâm sàng chỉ định các phương thức điều trị thích hợp nhất để ngăn chặn diễn tiến đến xơ gan và ung thư gan nguyên phát. Việc điều trị Viêm gan mạn (VGM) do HBV nhằm các mục tiêu (1) ức chế HBV sinh sản, (2) cải thiện bệnh lý ở gan và (3) triệt tiêu HBV. Các thuốc điều trị VGM do HBV gồm các nhóm như: Các thuốc chống virut và điều hòa miễn dịch như Interferon (IFN),Peg Interferon (Peg IFN) và Interleukines; các nucleosid / nucleotid như Lamivudine, Adefovir, Entecavir.

Ước đoán gần đây trên thế giới có khoảng 2 tỷ người đã nhiễm HBV, trong đó hơn 360 – 400 nghìn người bệnh mạn tính có nguy cơ biến chứng nguy hiểm (trong đó đáng kể nhất là xơ gan mất bù và ung thư gan). Ước tính tỷ lệ tử vong do bệnh gan liên quan đến viêm gan B mạn gây ra trên thế giới là 500.000 đến 700.000 mỗi năm. Khoảng 60% dân số thế giới sống ở những khu vực có nguy cơ lây nhiễm viêm gan B cao. Những khu vực sau, bao gồm Đông Nam Á, Nam Thái Bình, cận Saharan châu Phi, có từ 10% tới 12% dân số nhiễm bệnh mạn tính, phần còn lại có bằng chứng huyết thanh đã từng nhiễm viêm gan siêu vi B bất chấp trước đó tiêm chủng viêm gan B đã được mở rộng từ hơn 10 năm trước và các thuốc chống virut HBV dạng uống liên tục được công nhận, đưa vào sử dụng. Điều đó phản ánh tỷ lệ người nhiễm viêm gan B ngày càng phổ biến ở cộng đồng .

Gần đây, được phát minh từ năm 1985 và được thừa nhận chính thức từ năm 1993 qua Giải thưởng Nobel về hoá học cho Kary Mullis – người phát minh ra nó, PCR được ứng dụng để xác định các đột biến kháng thuốc của HBV cũng như xác định kiểu gen của HBV. PCR giữ một vai trò rất quan trọng trong việc xác định kiểu gen virut viêm gan B cũng như việc nhận diện được các đột biến kháng các thuốc Lamivudine, Adefovir, Entecavir để từ đó chúng ta có một phác đồ điều trị tối ưu.

Hai loại đột biến, kháng thuốc gây ra do điều trị vi rút đường uống trong viêm gan B mạn nay đã được nhận diện:

-Kháng thuốc genotip (kiểu gen): Phát hiện các đột biến trên thí nghiệm in vitro cho thấy có kháng với các nucleoside / nucleotid thêm vào.

-Kháng thuốc phenotip (kiểu hình): Chứng thực trên in vitro đột biến giảm nhạy cảm (thể hiện bởi sự tăng nồng độ ức chế) với các nucleoside / nucleotid đưa vào.

Đột biến kháng thuốc tiên phát gây ra bởi sự thay thế acid amin dẫn đến giảm nhạy cảm đối một số thuốc cụ thể; đột biến phụ bổ sung không ảnh hưởng tới sự nhạy cảm với thuốc nhưng hồi phục khiếm khuyết chức năng ở hoạt tính của enzym polymerase của vi rút (tính tương hợp sao chép) kết hợp với sự kháng thuốc tiên phát. Phát triển của kháng thuốc cần được phân biệt với không đáp ứng thuốc tiên phát, bao gồm không tuân thủ điều trị. Kháng chéo được xác định khi biến thể kháng với hơn 1 thuốc trên thử nghiệm in vitro.

Các kiểu gen viêm gan B và các thể đột biến có thể ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư gan.

Theo ScienceDaily (15,tháng 8, 2008) – tạp chí viện ung thư quốc gia Hoa kỳ. Nhiễm vi rút viêm gan B gây ung thư gan ở một số bệnh nhân, nhưng không phải tất cả các chủng vi rút đều gây nguy cơ ở mức độ như nhau. Nếu điều này được thừa nhận, các tài liệu mới công bố gần đây có thể giúp ích cho các chiến lược ngăn chăn căn bệnh ung thư trong tương lai.

Trước đây, các nhà nghiên cứu đã xác định 8 kiểu gen HBV và nhiều đột biến trong 2 vùng genom của vi rút, vùng trước (precore) và promoter cốt lõi (basal core promoter). Người ta không biết phạm vi mà các kiểu gen hoặc các đột biến HBV liên quan đến nguy cơ gây ung thư gan (còn được gọi là ung thư biểu mô tế bào gan).

Để tìm hiểu, Chien-Jen Chen, tiến sỹ khoa học của Academia Sinica, Đài Bắc, Đài Loan và cộng sự đã mô tả AND vi rút từ 2,762 người nhiễm vi rút nhưng chưa bị ung thư gan tại thời điềm thu thập mẫu máu, vào khoảng năm 1991 và 1992.

Sau hàng năm theo dõi 33,847 người, 153 đối tượng được chẩn đoán ung thư gan. HBV kiểu gen C và một đột biến đặc biệt vùng promoter cốt lõi (A1762T/G1764A) liên quan đến sự gia tăng nguy cơ ung thư gan, trong khi đó, một đột biến khác, vùng trước (G1896A) lại được cho là làm giảm nguy cơ phát sinh ung thư gan.

Nghiên cứu này có thể nhận dạng “các cá nhân có gia tăng nguy cơ tiến triển bệnh gan và do đó, việc can thiệp sớm như định kỳ kiểm tra để phát hiện tiến triển của bệnh, và điều trị là rất có ích” tác giả viết.

Các nhà biên tập, Josep Llovet, bác sỹ của trường Y Mount Sinai, New York và Anna Lok, bác sỹ, trung tâm y khoa Đại học Michigan ở Ann Arbor đã xem xét các yếu tố nguy cơ gây ung thư gan đã biết trước đó, các chiến lược ngăn ngừa nhằm giảm thiểu nguy cơ nhiễm HBV và chế độ điều trị những bệnh nhân đã phát triển ung thư gan.

“Một trong số những thách thức chính là xác định xem việc phòng ngừa thứ phát có thể trọn vẹn với những liệu pháp kháng vi rút mới trong nhiễm HBV hay không” các nhà biên tập viết. Trong khi những chiến lược phòng ngừa thứ phát được kiểm tra trên những thử nghiệm ngẫu nhiên lớn, bệnh nhân nên được phân loại bởi những yếu tố nguy cơ đã biết, bao gồm kiểu gen vi rút và các đột biến.

Đột phá trong điều trị viêm gan siêu vi B đột biến kháng thuốc, lần đầu tiên tại VN, Tenofovir đã được các nhà khoa học bào chế thành công với tên biệt dược là Topflovir. Topflovir có hiệu quả cao trong điều trị viêm gan B.

Để điều trị viêm gan B, chúng ta thường sử dụng các thuốc có cấu trúc tương tự nucleotide / nucleosid. Tuy nhiên, hiệu quả của việc dùng thuốc này thường không được lâu dài do xuất hiện vi rút kháng thuốc. Do kháng chéo, người bệnh kháng với một hoặc một số thuốc nhóm này có thể không phát huy được tối đa tác dụng từ thuốc cùng nhóm.

Đề phòng kháng thuốc

Để đề phòng kháng thuốc, cần cân bằng giữa lợi ích tiềm tàng của liệu pháp chống vi rút với nguy cơ tiềm tàng của sự kháng thuốc. Cần tránh các đơn trị liệu tiếp theo với các thuốc cùng mẫu kháng chéo để tránh tạo thành các đột biến đa kháng (Ví dụ: dùng entecavir cho những bệnh nhân đã kháng lamivudin).

Để giảm nguy cơ kháng thuốc, bệnh nhân thường được ưu tiên khởi đầu liệu pháp bằng những thuốc có ba-ri-e di truyền với sự kháng thuốc cao và/ hoặc hiệu lực cao. Người bệnh cần được kiểm tra nồng độ ADN HBV huyết thanh 3 tháng một lần sau khi bắt đầu trị liệu và nếu đáp ứng kém, cần chuyển sang thuốc điều trị vi rút đường uống khác.

Kiểm soát kháng thuốc

Kế hoạch “điều trị giải cứu” các bệnh nhân bùng phát siêu vi dễ dàng được thực hiện nhờ các xét nghiệm kháng thuốc sẵn có. Trên cơ sở Cẩm nang điều trị Hoa Kỳ và Hướng dẫn của Hiệp hội nghiên cứu bệnh gan Hoa Kỳ (AASLD – 2007), nguyên tắc chung là thêm thuốc thứ 2 không kháng chéo với thuốc ban đầu (chẳng hạn, thêm 1 thuốc nucleotid khi phát hiện kháng với một thuốc nucleosid và ngược lại).

Để củng cố nguyên tắc thêm thuốc thứ 2 không kháng chéo với thuốc ban đầu, các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu đánh giá hiệu quả của việc kết hợp thuốc đối với thay thuốc trong liệu pháp adefovir ở bệnh nhân kháng lamivudin, viêm gan B mạn, HbeAg âm tính. Kết quả: Bệnh nhân với liệu pháp kết hợp vẫn nhạy cảm với thuốc chống vi rút, trong khi 3 trong số 14 người với liệu pháp thay thế đã phát triển các đột biến có dấu hiệu kháng adefovir.

Liệu pháp kết hợp

Đối với viêm gan B, dường như đơn trị liệu không cung cấp một ba-ri-e đủ cao để chống lại sư phát triển kháng thuốc. Do đó, bất kể phạm vi kháng thuốc, đơn trị liệu với bất cứ nucleosid / nucleotid nào cũng có thể thúc đẩy sự kháng thuốc. Cũng có khả năng kháng lại một thuốc có thể dẫn đến kháng những thuốc tiếp theo do sự tương đồng của các đột biến (kháng chéo). Ở bệnh nhân nhiễm HIV, điều trị kết hợp để tránh kháng thuốc đang rất hiệu quả. Vì vậy, chế độ kết hợp thuốc có thể cung cấp chiến lược tương tự để nâng ba-ri-e di truyền với kháng thuốc trong điều trị viêm gan B mạn.

Vài nghiên cứu nhỏ cho rằng, sử dụng liệu pháp kết hợp ngay từ đầu có thể hiệu quả trong phòng chống kháng thuốc. Thật vậy, một thử nghiệm lâm sàng gần đây được tiến hành trên 145 bệnh nhân viêm gan B mạn kháng lamivudin được điều trị đồng thời với adefovir trung bình 42 tháng đã cho thấy bệnh nhân dường như không phát triển kháng thuốc genotyp với adefovir và ngăn chặn lâu dài bùng phát siêu vi và lâm sàng. Các điều tra bổ sung đã giúp sáng tỏ vai trò kết hợp thuốc với ba-ri-e di truyền cao trong đề phòng kháng thuốc.

Kết quả từ vài thử nghiệm lâm sàng đề xuất tăng hiệu lực điều trị bằng cách sử dụng kết hợp các thuốc tương tự nucleotid / nucleosid. Sử dụng kết hợp Pegylated interferon alfa-2a với các thuốc đường uống cũng có thể giảm nguy cơ kháng thuốc (chẳng hạn, làm chậm quá trình kháng thuốc đường uống).

Vì vậy, việc kết hợp 2 nucleosid / nucleotid hiệu lực với sự kháng thuốc khác nhau có thể giữ hy vọng trong điều trị cho bệnh nhân viêm gan B mạn. Các thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh hiệu quả của phương pháp này. Tuy nhiên, sự vắng mặt rõ ràng của kháng thuốc trong suốt quá trình điều trị kéo dài với tenofovir ở các bệnh nhân đã / chưa từng điều trị với nucleosid / nucleotide, có hay chưa có đột biến kháng thuốc cũng có thể gợi ý rằng liệu pháp kết hợp không phải là luôn cần thiết. (Theo Chakradhar M. Reddy, MD, Paul Martin, MD, FACP: Understanding Resistance in Hepatitis B — Clinical Implications-Expert Column, May 29, 2008).

Vừa qua, lần đầu tiên tại VN, Tenofovir đã được các nhà khoa học bào chế thành công với tên biệt dược là Topflovir, thuốc do Công ty Cổ phần Dược phẩm Trung ương 1 sản xuất, được phân phối bởi công ty TNHH Dược phẩm Hiền Vĩ và Công ty Dược phẩm Minh Hiền.

Topflovir không chỉ có hiệu quả cao để điều trị những bệnh nhân viêm gan B mạn đã / chưa từng điều trị với nucleotid / nucleosid trong thời gian ngắn mà nó còn chứng tỏ hiệu quả cao và khả năng dung nạp tốt trên những bệnh nhân viêm gan B xơ gan còn / mất bù đa kháng (thời gian điều trị thành công là 8 tháng).

Độ an toàn và dung nạp giữa nhóm dùng Topflovir và adefovir là tương đương, riêng độ an toàn trên thận của Topflovir được miêu tả là “tuyệt vời”, không bệnh nhân nào dùng Topflovir thông báo tăng nồng độ creatinin lên đến 0,5mg/dl hoặc có độ thanh thải dưới 50ml/phút.
Xem tiếp…

NGĂN NGỪA VÀ CHỦ ĐỘNG PHÒNG TRÁNH VIÊM GAN VIRUS B

03:23 |
Viêm gan B là bệnh truyền nhiễm mang tính toàn cầu.Toàn thế giới có trên 300 triệu người nhiễm virus viêm gan, trong đó có khoảng 20% số người mắc bệnh viêm gan mãn tính và xơ gan với mức độ khác nhau. Tỷ lệ chữa khỏi viêm gan B mãn tính là rất thấp.
                                                                     

Người bệnh mang thai và sinh con bình thường

Việc lây truyền bệnh viêm gan B đang là nỗi lo thường trực của rất nhiều người. Bệnh này có thể lây truyền từ mẹ sang con, giữa các thành viên trong gia đình và quan hệ tình dục. Virus viêm gan B gây bệnh gan mãn tính và là nguyên nhân phổ biến nhất gây bệnh xơ gan,ung thư gan.

Theo bác sĩ Lê Thị Tuyết Phượng, Phó Trưởng khoa Nội tiêu hóa, BV Nhân Dân 115 (TP HCM), viêm gan siêu vi B có hai dạng: Cấp tính và mạn tính.

Điều trị viêm gan B cấp tính có thể khỏi hoàn toàn và tạo được kháng thể miễn dịch suốt đời. Việc điều trị trong giai đoạn cấp đa số chỉ cần nghỉ ngơi và có các biện pháp hỗ trợ thích hợp. Trong trường hợp mạn tính, nến ở dạng không hoạt động, chỉ cần theo dõi định kỳ, chưa cần điều trị đặc trị. Nếu ở dạng hoạt động, căn cứ vào trường hợp cụ thể, bác sĩ sẽ lựa chọn thuốc điều trị đặc trị dạng uống hoặc chích. Thời gian điều trị tùy từng bệnh nhânnhưng thông thường phải kéo dài từ một đến vài năm, thậm chí có người phải điều trị suốt đời.

Khi bị nhiễm siêu vi B mãn tính, mục tiêu của điều trị là làm sao thải trừ được virus đến mức không phát hiện được trong máu, hạn chế tối đa gây tổn thương gan, hạn chế tỉ lệ xơ gan, ung thư gan. Tỉ lệ bệnh nhân được chữa khỏi hẳn siêu vi B mãn tính rất thấp.

Cũng giống như HIV, viêm gan siêu vi B lây truyền qua ba đường: Máu, tình dục và mẹ truyền cho con. Theo bác sĩ Phượng, để phòng ngừa bệnh phải lưu ý không tiêm chích, sử dụng chung những vật dụng có khả năng dính máu với người khác; không sử dụng ma túy; quan hệ tình dục an toàn; thăm khám thai và tuân theo chỉ dẫn của bác sĩ khi mang thai, đặc biệt ở những bà mẹ mang thai có nhiễm siêu vi B.

Nhiều người băn khoăn là viêm gan B lây truyền từ mẹ sang con, nên những người có bệnh thì có nên sinh con không? Theo bác sĩ Phạm Thị Lệ Hoa, Phó Chủ nhiệm bộ môn Nhiễm, ĐH Y dược TP HCM thì người bị nhiễm siêu vi B vẫn lập gia đình và có con bình thường. Nếu mang thai mà có HBeAg dương tính thì có thể truyền siêu vi B cho con. Tuy nhiên, hiện nay tất cả bé sinh từ mẹ bị nhiễm siêu vi B đều được chích vaccine và dùng HBIg ngay sau sinh để được bảo vệ trong tháng đầu đời. Trẻ cũng cần được xét nghiệm HBsAg và antiHBs sau 18 tháng để bảo đảm việc chủng ngừa theo chương trình tiêm chủng mở rộng là hiệu quảvà có kháng thể bảo vệ.

Bệnh có thể phòng ngừa

Dù nguy hiểm nhưng viêm gan B lại là một bệnh có thể phòng ngừa. Việc phòng bệnh bắt đầu từ lúc mới sinh bằng một loại vaccine hiệu quả cao và an toàn để phá vỡ chuỗi lây nhiễm là rất quan trọng. Virus này có khả năng lây nhiễm cao, có thể dễ dàng lây sang trẻ sơ sinh sau khi tiếp xúc với máu của mẹ trong quá trình sinh nở. Vaccine có thể ngăn ngừa lây nhiễm thậm chí sau khi bị phơi nhiễm với virus. Vì thế, theo các bác sĩ, trẻ sơ sinh cần phải được tiêm chủng trong vòng 24 giờ sau sinh và 2 liều vaccine theo đúng lịch.

Khi mắc bệnh gan, người bệnh cần phải có chế độ sinh hoạt, dinh dưỡng hợp lí để tránh chuyển sang ung thư gan. Bởi theo BS Trần Nguyên Hà, BV Ung bướu TP HCM, viêm gan siêu vi B là yếu tố nguy cơ gây ung thư gan. Tuy nhiên, không phải ai bị viêm gan B cũng sẽ chuyển sang xơ gan hay ung thư nếu có chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt thích hợp.

Theo các bác sĩ, người bệnh nên duy trì nguyên tắc dinh dưỡng cân bằng. Những thức ăn nhiều đường, nhiều calo khiến cho gan bị nhiễm mỡ, không có lợi cho việc hồi phục sức khỏe. Đối với những người mắc bệnh gan mạn tính thì những thức ăn giàu chất protit sẽ tăng thêm gánh nặng cho gan.

Những người mắc bệnh trong thời kỳ khác nhau, tình hình sức khỏe không giống nhau, thì ăn uống cũng không giống nhau. Nên dựa trên nguyên tắc ăn những thức ăn vừa miệng, thanh đạm, tươi, dễ tiêu hóa là tốt nhất; bảo đảm cung cấp cho cơ thể một lượng mỡ, calo thích hợp, đồng thời bổ sung đủ Vitamin. Nên ăn nhiều các loại nấm, mộc nhĩ đen, không những mùi vị thơm ngon mà còn hỗ trợ phục hồi gan rất tốt.

Để cải thiện chất lượng cuộc sống, phải tạo cho người bệnh có tinh thần lạc quan yêu đời. Y học hiện đại chứng minh, những người bệnh lạc quan đối với bệnh tật có thể tăng cường sức đề kháng của cơ thể, qua đó có thể tiến thêm một bước trong việc hỗ trợ điều tiết chức năng của các bộ phận, có lợi cho việc khắc phục những ảnh hưởng không tốt của bệnh tật đối với cơ thể.

Củ nghệ có thể ngừa viêm gan

Chất curcumin – một trong những thành phần chính có trong củ nghệ – dường như có khả năng làm trì hoãn những tổn hại về gan, là nguyên nhân dẫn đến bệnh xơ gan. Kết quả một cuộc nghiên cứu vừa được đăng tải trên tạp chí Gut (Mỹ) mới đây cho thấy, việc bổ sung một ít bột nghệ vào chế độ ăn hàng ngày của bạn có thể giúp ngăn ngừa những tổn hại về gan.

Curcumin được biết đến là chất tạo nên sắc tố vàng sáng ở củ nghệ, được sử dụng để bào chế thuốc Ayurvedic ở Ấn Độ, nhằm giúp điều trị các rối loạn ở dạ dày. Ngoài ra, chất curcumin còn được chứng minh có tác dụng chống viêm và chống ôxy hóa, rất có ích trong việc bảo vệ sức khỏe, chống lại bệnh tật.
Xem tiếp…

THUỐC GLOBULIN MIỄN DỊCH KHÁNG VIÊM GAN B

03:01 |
Globulin miễn dịch kháng viêm gan B (HBIG) là một dung dịch vô khuẩn, không có chí nhiệt tố, chứa 10 - 18% protein trong đó không dưới 80% là globulin miễn dịch G monome (gamma globulin, IgG). Dung dịch được điều chế từ huyết tương của những người có hiệu giá kháng thể cao đối với kháng nguyên bề mặt của virus viêm gan B (kháng HBs) mà trong huyết tương của họ không có kháng nguyên bề mặt virus viêm gan B (HBsAg).

Các thành phần khác: Glycin 0,3M là chất tạo ổn định cho chế phẩm và có thể chứa thimerosal 100 microgam/ml, đóng vai trò chất bảo quản.

Dược lý và cơ chế tác dụng

Globulin miễn dịch kháng viêm gan B (HBIG) dùng để tạo miễn dịch thụ động chống nhiễm virus viêm gan B nhằm điều trị dự phòng cho người tiếp xúc với virus viêm gan B hay với các bệnh phẩm (ví dụ như máu, huyết tương, huyết thanh) nhiễm virus viêm gan B. Kháng thể đặc hiệu chống kháng nguyên bề mặt virus viêm gan B (kháng HBs) có trong HBIG gắn kết với kháng nguyên bề mặt của virus để trung hòa virus viêm gan B, do đó các tính chất gây nhiễm và gây bệnh của virus bị ức chế.

Một khi nhiễm virus viêm gan B bắt đầu rõ về lâm sàng và/hoặc thử nghiệm huyết thanh chứng tỏ có HBsAg, hình như HBIG không thể trung hòa được virus, mặc dù HBIG có thể làm thay đổi hoặc cải thiện tình trạng nhiễm virus. Trong một công trình nghiên cứu, sau khi tiêm HBIG cho những người tiếp xúc với máu dương tính HBsAg, nhiễm viêm gan B rõ rệt (xuất hiện các dấu ấn huyết thanh và triệu chứng lâm sàng) chỉ phát triển ở 2% số người được điều trị, trong khi nhiễm virus dưới lâm sàng (chỉ có mặt các dấu ấn huyết thanh) phát triển ở 10% số người được điều trị.

Ở một số người bệnh, dùng HBIG sau khi tiếp xúc với virus, có thể làm chậm phát triển nhiễm viêm gan B. Trong nhiều nghiên cứu, dự phòng bằng HBIG sau tiếp xúc bảo vệ chống nhiễm viêm gan B được khoảng 6 tháng sau khi tiêm. Ở thời điểm này nhiều người bệnh đã được tiêm phòng có bằng chứng huyết thanh chứa HBsAg và/hoặc có các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm virus. Lý do là vì virus đã có thể có mặt trong cơ thể người bệnh vào thời điểm tiêm HBIG, các triệu chứng lâm sàng của bệnh có thể xuất hiện khi các kháng - HBs đưa vào thụ động đã giảm. Hoặc sự chậm phát triển nhiễm virus có thể là do tiếp xúc lần thứ hai với virus nhiều tháng sau khi dùng HBIG, khi đó nồng độ kháng - HBs thụ động đưa vào tuần hoàn, đã giảm.

Việc dùng đồng thời HBIG với vaccin viêm gan B ở các vị trí tiêm khác nhau sẽ không ức chế khả năng đáp ứng miễn dịch chủ động của vaccin.
Dược động học

HIBG được hấp thu chậm sau khi tiêm bắp. Sau khi tiêm, kháng thể (kháng - HBs) xuất hiện trong huyết thanh trong vòng 1 - 6 ngày, nồng độ đỉnh đạt trong vòng 3 - 11 ngày và tồn tại trong khoảng 2 - 6 tháng.

Mặc dầu chưa có thông tin cụ thể, HBIG có thể qua nhau thai, vì các globulin miễn dịch khác qua được hàng rào nhau thai. Hầu như tất cả các globulin miễn dịch qua nhau thai vào 4 tuần cuối thai kỳ. Thông tin về phân bố của HBIG vào sữa còn chưa có. HBIG có thể vào sữa, vì các globulin miễn dịch (chẳng hạn như IgA, IgM, IgG) đều có trong sữa non.

Nửa đời huyết thanh của kháng thể (kháng - HBs) được thông báo là 21 ngày (trong khoảng 17,5 - 25 ngày); điều này phù hợp với nửa đời huyết thanh của globulin miễn dịch là 21 ngày.

Chỉ định

Globulin miễn dịch kháng viêm gan B được dùng để tạo miễn dịch thụ động chống nhiễm virus viêm gan B trong điều trị dự phòng cho người tiếp xúc với virus này hoặc có tiếp xúc với các vật liệu (máu, huyết tương, huyết thanh) dương tính với HBsAg.

Chống chỉ định

HBIG không được chỉ định để điều trị viêm gan B cấp tính và không có hiệu quả trong điều trị viêm gan B mạn tính thể đang tiến triển hoặc viêm gan B thể tối cấp. HBIG chống chỉ định cho những người quá mẫn với thuốc này hay với bất kỳ một thành phần nào có trong dạng bào chế.

Thận trọng

Cần thận trọng khi dùng HBIG cho những người có tiền sử dị ứng toàn thân đối với globulin miễn dịch. Các nhà sản xuất thông báo rằng các phản ứng dị ứng toàn thân có thể xảy ra sau khi vô ý tiêm HBIG vào tĩnh mạch, vì các phản ứng như vậy đã xảy ra sau khi tiêm globulin miễn dịch vào tĩnh mạch. Mặc dầu các phản ứng dị ứng toàn thân đối với các chế phẩm có chứa globulin miễn dịch thường hiếm gặp, nhưng vẫn cần có sẵn epinephrin (adrenalin) để điều trị sốc phản vệ nếu xảy ra.

Cũng cần thận trọng khi dùng HBIG cho người thiếu hụt IgA đặc hiệu, vì những người này có thể có các kháng thể kháng IgA trong huyết thanh và sốc phản vệ có thể xảy ra sau khi dùng các chế phẩm có nguồn gốc từ máu có IgA.

Cần thận trọng đối với người giảm tiểu cầu hoặc rối loạn cầm máu, vì chảy máu có thể xảy ra sau khi tiêm bắp HBIG (có thể vì bị tổn thương do tiêm).

Phức hợp kháng nguyên - kháng thể có tiềm năng nguy hiểm có thể xảy ra về mặt lý thuyết sau khi tiêm HBIG cho người có HBsAg dương tính, mặc dầu chưa thấy phản ứng phụ ở những người như vậy. Các số liệu về sự hình thành các phức hợp này còn hạn chế.

Khả năng lây truyền viêm gan B từ HBIG là rất hiếm. Mặc dầu một số cuộc khảo sát về các globulin miễn dịch tiêm tĩnh mạch có liên quan đến lan truyền viêm gan không A, không B, nhưng cho tới nay cũng chưa có thông báo nào về lây truyền bệnh này do dùng HBIG.

Thời kỳ mang thai

Vì nguy cơ tiềm ẩn do tiếp xúc với viêm gan B, nên không có chống chỉ định dùng HBIG khi mang thai nếu thật sự cần thiết. Các nghiên cứu về sinh sản ở động vật chưa được tiến hành với HBIG và chưa rõ HBIG có thể gây độc cho bào thai khi tiêm thuốc cho phụ nữ đang mang thai hay không. Kinh nghiệm lâm sàng khi dùng các chế phẩm chứa globulin miễn dịch khác không thấy có các tác dụng phụ đối với bào thai do các globulin miễn dịch. Cho tới nay, chưa có nghiên cứu nào cho thấy có các tác dụng phụ xảy ra ở bào thai khi dùng HBIG.

Thời kỳ cho con bú

Không có thông tin về sự phân bố HBIG vào sữa mẹ và cũng chưa rõ liệu truyền HBIG sang trẻ đang bú mẹ có gây rủi ro hay không. Nên thận trọng khi dùng HBIG cho người đang cho con bú.

Tác dụng không mong muốn (ADR)

Sau khi dùng globulin miễn dịch viêm gan B, các tác dụng không mong muốn ít gặp, nhẹ và thoáng qua.

Tác dụng tại chỗ: Ðau, sờ đau, nề và nổi ban đỏ tại nơi tiêm.

Tác dụng toàn thân: Mày đay, ngứa, phù mạch, buồn nôn, ngất thỉu, sốt, đau khớp và mình mẩy, chóng mặt, chuột rút ở chân, khó chịu và mệt mỏi.

Mẫn cảm với globulin miễn dịch đôi khi xảy ra ở những người đã tiêm bắp với liều cao hay tiêm nhiều lần. Sau khi tiêm globulin miễn dịch sốc phản vệ cũng đã từng xảy ra nhưng hiếm. Mối liên hệ nhân quả trực tiếp giữa các phản ứng này với HBIG chưa được xác định.

Liều lượng và cách dùng

HBIG chỉ dùng tiêm bắp. Không được tiêm HBIG vào tĩnh mạch.

Ðối với người lớn và trẻ em, tốt hơn cả là tiêm HBIG vào vùng cơ đenta hoặc tiêm vào mặt trước - bên của đùi. Ðối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, tiêm HBIG vào mặt trước - bên của đùi. Sau khi chọc kim vào nên rút pit tông ra để đảm bảo rằng kim không chọc vào mạch máu. Nếu có máu hoặc bất kỳ biến đổi màu bất thường nào trong bơm tiêm thì không được tiêm, rút kim ra và hủy bỏ bơm tiêm đó. Ðể phòng sự lan truyền virus viêm gan B và/hoặc các tác nhân gây nhiễm khác, từ người này sang người khác phải dùng một bơm tiêm và kim tiêm riêng cho từng người.

Ðể tránh khả năng trung hòa, không được trộn HBIG và vaccin virus viêm gan B vào cùng một bơm tiêm và không được tiêm vào cùng một vị trí.
Dự phòng sau tiếp xúc

Sự tiếp xúc với viêm gan B hoặc với các dịch cơ thể có thể dương tính với kháng nguyên HBsAg, cần được đánh giá theo từng người, tùy thuộc tình trạng huyết thanh HBsAg của người và tình trạng tiêm chủng vaccin chống viêm gan B của người đã tiếp xúc. Với người lớn, mỗi liều HBIG thường khoảng 3 - 5 ml.

Nguồn tiếp xúc biết chắc dương tính đối với HBsAg.

Sau khi tiếp xúc với một nguồn biết rõ có HBsAg dương tính, ở người chưa được tiêm phòng vaccin chống viêm gan B thì liều HBIG thường dùng cho người lớn là 0,06 ml/kg (khoảng 3 - 5 ml), tiêm đồng thời với một liều vaccin virus viêm gan B bất hoạt nhưng ở một vị trí khác và sau đó hoàn tất lịch tiêm chủng vaccin tạo miễn dịch cơ bản; một cách khác, liều vaccin đầu tiên có thể tiêm trong vòng 7 ngày sau khi tiếp xúc. HBIG phải tiêm càng sớm càng tốt sau khi tiếp xúc, tốt nhất là trong vòng 24 giờ. Người không chọn cách tiêm phòng bằng vaccin, phải tiêm HBIG liều thông thường càng sớm càng tốt, trong vòng 24 giờ sau khi tiếp xúc; liều HBIG thứ 2 được tiêm sau đó 1 tháng. Liều HBIG thường dùng cho trẻ em là 0,06 ml/kg.

Khi tiếp xúc với một nguồn có HBsAg dương tính rõ, người mà trước đây đã hoàn thành một loạt tiêm phòng miễn dịch cơ bản với vaccin viêm gan B và đã có bằng chứng là có đáp ứng đầy đủ hoặc không đầy đủ, thì người tiếp xúc đó phải được thử lại kháng nguyên HBsAg. Nếu có kháng thể (kháng - HBs) không đầy đủ ở một người trước đây đã có đầy đủ, thì không cần thiết phải dùng HBIG, nhưng phải tiêm một liều vaccin củng cố. Nếu có kháng thể không đầy đủ ở một người tiếp xúc mà trước đã hoàn thành việc tiêm phòng miễn dịch cơ bản nhưng không rõ đáp ứng miễn dịch ra sao, thì phải tiêm ngay một liều thông thường HBIG cùng với một liều vaccin củng cố tại một vị trí khác. Ở người tiếp xúc có kháng thể không đầy đủ mà trước đây không đáp ứng với vaccin thì phải dùng ngay một liều thông thường HBIG cùng với một liều vaccin củng cố chống viêm gan B tại một vị trí khác. Một cách tiêm phòng khác là những người không có đáp ứng như thế có thể tiêm 2 liều HBIG (mỗi liều 0,06 ml/kg), một liều tiêm ngay và một liều tiêm sau đó một tháng. Phác đồ này hay được dùng cho những người đã không đáp ứng với ít nhất 4 liều vaccin.

Nguồn tiếp xúc biết chắc âm tính đối với HBsAg. Sau khi tiếp xúc với một nguồn HBsAg âm tính, chỉ cần tạo miễn dịch cho những ai chưa thực hiện tiêm chủng hoặc chưa tiêm chủng đầy đủ trước đây. Những người chưa được tiêm chủng cần nhận một liệu trình tiêm chủng miễn dịch cơ bản bằng vaccin viêm gan B. Không cần tiêm HBIG.

Nguồn tiếp xúc không rõ là có hay không có HbsAg hoặc không rõ nguồn. Sau khi tiếp xúc với một nguồn đã xác định rõ nhưng không biết có hay không có HBsAg (tức là không làm test) hay một nguồn không rõ, những người trước đây không được tiêm vaccin cần thực hiện một liệu trình tiêm miễn dịch cơ bản bằng vaccin viêm gan B. Những người trước đây đã được tiêm vaccin và có đáp ứng miễn dịch thì không cần tiêm phòng thêm ở thời điểm tiếp xúc. Ðối với người không có đáp ứng và hiện đang bị tiếp xúc với nguồn có lẽ là HBsAg dương tính thì có thể dùng ngay 0,06 ml/kg HBIG cùng với một liều củng cố bằng vaccin viêm gan B. Một cách khác, những người không có đáp ứng miễn dịch này có thể tiêm 2 liều (mỗi liều 0,06 ml/kg) HBIG, với một liều ngay lập tức và liều thứ hai 1 tháng sau đó.

Trẻ sơ sinh có mẹ HBsAg dương tính. Trẻ sơ sinh có mẹ HBsAg dương tính phải dùng phối hợp cả hai loại miễn dịch: Thụ động bằng HBIG và chủ động bằng vaccin viêm gan B. Liều thường dùng cho trẻ sơ sinh có mẹ HBsAg dương tính là 0,5 ml. HBIG phải tiêm ngay sau khi trẻ sơ sinh ổn định về mặt sinh lý, nên tiêm trong vòng 12 giờ sau khi sinh; nếu tiêm liều đầu tiên HBIG chậm hơn thì có thể mất dần hiệu lực.

Các tiếp xúc khác trong gia đình. Với trẻ nhỏ dưới 12 tháng tuổi có mẹ hoặc người chăm sóc khác bị viêm gan B cấp, cần được tiêm 1 liều 0,5 ml HBIG cùng với việc bắt đầu tiêm chủng miễn dịch cơ bản bằng vaccin viêm gan B.

Tương tác thuốc

Với vaccin viêm gan B:

Khi dùng liều HBIG tới 3 ml đồng thời với vaccin viêm gan B nhưng tiêm tại các vị trí khác nhau, sẽ không ức chế đáp ứng miễn dịch chủ động do vaccin tạo ra.

Với các vaccin khác:

Vì các kháng thể chứa trong chế phẩm HBIG có thể cản trở đáp ứng miễn dịch với các vaccin virus sống (như vaccin virus sởi sống, vaccin virus quai bị sống, vaccin virus rubella sống, vaccin virus bại liệt sống đường uống), việc dùng các vaccin này nói chung phải hoãn lại tới 3 tháng sau khi tiêm HBIG.

Do các chế phẩm globulin miễn dịch không biểu hiện khả năng ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch đối với vaccin sốt vàng, hoặc vaccin thương hàn uống (Ty21a), nên các vaccin này có thể dùng đồng thời hoặc trước hay sau khi dùng HBIG.

Ðộ ổn định và bảo quản

Globulin miễn dịch kháng viêm gan B cần được lưu giữ trong điều kiện lạnh 2 - 8oC; tránh để đông băng.

Thông tin qui chế

Thuốc phải được kê đơn và bán theo đơn.
Xem tiếp…

CÁC LOẠI TRÀ DƯỢC HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM GAN B

12:27 |
Viêm gan thường biểu hiện qua các triệu chứng hay mệt mỏi, chán ăn, giảm cân, đau hạ sườn phải, sốt nhẹ, nước tiểu vàng sẫm, có kèm theo vàng da, vàng mắt. Nếu không được điều trị, bệnh có thể dẫn đến xơ gan hoặc ung thư gan.

Nguyên nhân là do cơ thể suy nhược, ăn uống không hợp lý, tình chí không thoải mái, can không được sơ tiết thường làm tổn thương tỳ vị. Tỳ vị hư nhược, hàn thấp hoặc thấp nhiệt uất kết ở trung tiêu lại gặp phải thời khí ôn dịch dễ dẫn đến viêm gan. Để điều trị, Đông y có nhiều cách chữa hiệu quả. Xin giới thiệu một số bài trà dược tốt cho người viêm gan, giúp tăng cường chức năng gan, phòng chữa bệnh này.


Bài 1: Phèn đen 120g, chè 120g, táo tàu vừa đủ. Phèn đen và chè tán bột mịn, trộn đều với táo, giã nát, làm viên 3g. Mỗi lần uống 1 viên, ngày 3 lần, uống với nước chè. Công dụng: thanh nhiệt lợi thấp, trừ hoàng đản.

Bài 2: Nhân trần 30g, đường cát trắng vừa đủ. Nhân trần nấu nước, lọc bã pha đường, cho vào phích uống trong ngày. Ngày 1 thang. Nhân trần là vị thuốc hàng đầu thanh nhiệt lợi thấp thoái hoàng, là thứ thuốc hay để trị viêm gan hoàng đản.


Bài 3: Xa tiền tử 300g, nhân trần 150g, lá liễu tươi 500g. Cho cả 3 thứ vào nấu nước uống. 2 ngày uống 1 thang, liên tục 15 ngày. Công dụng: thanh nhiệt, lợi đởm thoái hoàng. Chữa viêm gan hoàng đản cấp.

Bài 4: Uất kim (tẩm dấm) 10g, cam thảo sao 5g, chè 2g, mật ong 25g. Cho cả 4 thứ vào nồi, đổ 1.000ml nước đun sôi 10 phút, lọc lấy nước uống. Ngày uống 1 thang. Công dụng: thư can giải uất, lợi thấp. Chữa viêm gan, xơ gan, gan nhiễm mỡ…

Bài 5: Quả mận tươi 100 – 150g, chè 2g, mật ong 25g. Bổ đôi quả mận cho vào nồi, đổ khoảng 350ml nước, đun sôi 3 phút. Cho chè và mật ong vào đun sôi lại thì bắc ra lọc lấy nước uống. Ngày 1 thang, chia 3 lần uống. Công dụng: thanh nhiệt lợi thấp, nhu can tán kết. Chữa xơ gan, thủy thũng…

Bài 6: Cỏ lưỡi rắn 25g (tươi càng tốt), cam thảo 10g, chè 3g. Cho cỏ lưỡi rắn và cam thảo vào nồi, đổ ngập nước đun nhỏ lửa còn lại khoảng 400ml, lọc bỏ bã, đun sôi lại rồi bỏ chè vào pha. Ngày 1 thang, uống nóng lúc nào cũng được. Công dụng: thanh nhiệt lợi thấp, tán kết giải độc. Chữa viêm gan, xơ gan, ung thư gan.

Lưu ý: Thời gian pha hoặc nấu trà không nên lâu quá, với cách pha thì dùng nước thật sôi, hãm 10 - 15 phút. Uống trà lúc đang nóng thì tốt, không nên uống cách đêm. Các dược liệu phải chọn loại có chất lượng, tránh mốc.
Xem tiếp…

THEO CHẾ ĐỘ ĂN CỦA NGƯỜI BỊ BỆNH VIÊM GAN B MÃN TÍNH

11:42 |
Gan là một cơ quanrất quan trọng của cơ thể, thực hiện nhiều chức năng khác nhau. Gan tham giavào các quá trình giải độc, chuyển hóa, điều hòa hệ tiêu hóa và cungcấp năng lượng cho cơ thể, giữ cho cơ thể có được sức khỏe tốt nhất.
Do đó, ở nhữngbệnh nhân bị viêm gan mãn tính, gan bị tổn thương không hồi phục, sức khỏe củangười bệnh bị đe doạ nghiêm trọng. Bên cạnh việc điều trị bằng thuốc, chế độăn uống, dinh dưỡng và tập luyện đóng vai trò quan trọng, góp phần nâng caohiệu quả điều trị.
Vì vậy, việc lựachọn chế độ dinh dưỡng cho những người mắc bệnh viêm gan mãn tính cần được quantâm triệt để.
                                                                                 

Chế độ ăn chongười bị viêm gan cần đảm bảo cả 2 yếu tố chất và lượng. Chế độ ăn cụ thể chotình trạng bệnh như sau:
Bệnh nhân viêm gan mãn tính giai đoạn đầu, quá trình tiêu hóa chưa gặp trở ngại nào,nhưng về lâu dài hệ thống tiêu hóa sẽ yếu dần vì vậy dễ dẫn đến thiếu dinhdưỡng.
Bên cạnh việc ănuống bình thường, tránh kiêng khem quá mức cần thiết, bệnh nhân cũng nên bổ sungthêm vitamin tổng hợp, axit folic, đặc biệt ở những bệnh nhân bị viêm xơ gan dorượu.
Với bệnh nhânviêm gan mãn tính có vàng da, khả năng bài tiết mật giảm vì thế sự hấp thu cácchất béo trở nên khó khăn hơn, các loại sinh tố hòa tan trong mỡ như Vitamin A,D, E sẽ không hấp thụ đủ. Vì vậy, nên uống thêm một số thuốc bổ sung vitamin vàkhoáng chất mỗi ngày. Bệnh nhân cũng nên ăn nhiều rau quả và trái cây để có đủchất xơ, ăn nhiều đạm nhất là đạm thực vật.
Việc cần bổ sungchất đạm trong viêm gan là rất cần thiết vì nó giúp cơ thể nhanh phục hồivà có tác dụng chống đỡ lại bệnh tật, làm tế bào gan tăng trưởng và phụchồi. Tuy nhiên, với bệnh nhân suy gan nặng cần kiêng tuyệt đối đạm động vật. Nên ăn các chất đạm có nguồn gốc từ thực vật như đậu xanh, đậu nành…
Lưu ý chung: Cần tránh tuyệtđối bia rượu, đây là kẻ thù rất nguy hiểm với gan. Nhiều nghiên cứu cho thấy, ởnhững người nghiện rượu bia lâu ngày dễ dẫn tới viêm gan, xơ gan,bệnh trở nên trầm trọng hơn, tuổi thọ sẽ giảm so với những người bịviêm gan mà không uống rượu.
Bệnh nhân bị viêmgan mãn tính không nên uống hay ăn những thực phẩm chứa nhiều chất sắt vì ganbị viêm mãn tính có khuynh hướng giữ chất sắt nhiều hơn mức bình thường.
Vì vậy, đưa vào cơthể thêm nhiều chất sắt dễ làm tăng nguy cơ tổn thương các cơ quan khác nhưtim, tụy. Các chuyên gia cũng khuyên người bị bệnh gan nên tránh nấu ăn bằngnồi sắt vì một số phân tử sắt có thể hòa tan vào thức ăn.
Tránh béo phì vì bệnh béo phì dễ dẫn đến cácbệnh tim mạch, đái tháo đường, gan nhiễm mỡ làm cho gan đã bị viêm có nguy cơtrở thành xơ gan. Vì vậy, những người viêm gan mãn tính cũng nên có chế độ tậpthể dục một cách phù hợp và giảm bớt các thức ăn có chất béo và đường.
Ngoài ra, có rấtnhiều loại thuốc điều trị bệnh có thể gây tổn thương các tế bào gan, nên ngườibị viêm gan mãn tính cần tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi dùng bất cứ mộtloại thuốc nào.
Tóm lại, những ngườibị viêm gan mãn tính, ở từng giai đoạn, việc lựa chọn chế độ dinh dưỡng hợp lýđể cung cấp đủ năng lượng cho cơ thể và tránh xa các chất độc hại là rất cầnthiết nhằm góp phần tạo nên chất lượng sống tốt hơn cũng như kéo dài tuổi thọcho người bệnh.
Xem tiếp…

CÁC BÀI THUỐC NAM CHỮA TRỊ BỆNH VIÊM GAN B HIỆU QUẢ

11:04 |
                                               
Bài 1
Rễ tân di 1.000g, sắc 3 lần, mỗi lần sắc trong 2 giờ, hoà nước thuốc cả ba lần, cô lại còn 2000 ml, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 20 ml.
Điều cần lưu ý là, khi dùng tân di phải chùi sạch lông, nếu không thì phải cho vào túi vải buộc kín miệng mà sắc để tránh gây ho và gây ngứa.


Bài 2
Thân rễ gừng gió 100g tươi, để nguyên vỏ rửa sạch, thái mỏng, cho vào ấm đất, đổ 4 bát ăn cơm nước, sắc nhỏ lửa còn 1 bát gạn lấy nước uống vào lúc 10 giờ. Nước hai cũng đổ 4 bát nước, sắc nhỏ lửa còn lại 1 bát uống vào lúc 16 giờ. Sau khi uống thuốc gừng gió chừng 1 - 2 tiếng sẽ thấy bụng sôi nhẹ và muốn đại tiện. Khi đại tiện thấy phân loãng, hôi, màu nhạt nâu như bã cà phê, thế là có tác dụng. Tuy nhiên trong suốt thời gian sử dụng thuốc cần phải ăn nhạt, hạn chế ăn các loại hoa quả chín giàu kali vì sẽ gây đầy bụng, kiêng rượu, bia, không ăn mỡ động vật, ăn ít dầu thực vật và không ăn các chất tanh.

Bài 3
Nhân dân vẫn dùng lá non làm rau ăn. Ráy gai, chủ yếu là thân rễ được dùng chữa viêm thận phù thũng, đau nhức các khớp xương từ đầu gối xuống bàn chân, đau nhức lưng, đau nhức đầu, táo bón, các bệnh về gan, viêm gan nhẹ, xơ gan cổ trướng. Còn dùng chữa ho và viêm họng, di chứng do sốt rét, mụn ở mặt, ngứa lở ngoài da. Liều dùng 12-16g, dạng thuốc sắc.

Một số bài thuốc nam chữa viêm gan vàng da

Bài1
Ốc nhỏ, nuôi ốc cho nhả hết đất, hằng ngày luộc ăn thịt, uống nước, chữa viêm gan vàng da do rượu.
Bài 2
Ráy gai 12 g, chó đẻ răng cưa 20 g, nhân trần 12 g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần.

Bài 3
Cây mã đề( còn gọi là cây xa tiền ) tươi lượng vừa phải, rửa sạch, dã lấy nước, mỗi lần dùng 100-150ml, thêm rượu nóng vào( bao nhiêu rượu thì căn cứ vào tửu lượng của người bệnh ) đắp chăn cho ấm, ra mồ hôi là có hiệu quả, uống liền 5-7 ngày
Bài 4
Cỏ mần trầu tươi 60g, rễ tổ kén đực 30g sắc uống.
Một số bài thuốc nam giúp giải độc gan
Bài 1
Kim ngân, Sài đất, Thổ phục linh, mỗi vị 20g và Cam thảo đất 12g, sắc uống.
Bài 2
Mộc nhĩ trắng, đường, mộc nhĩ rửa sạch, nấu chín kỹ, cho đường vào, ăn tùy ý.

Bài 3
Nấm hương, đậu phụ, dầu vừng, tỏi. Nấm hương rửa sạch, sấy khô, tán nhỏ, đun sôi nước, quấy bột nấm hương vào, cho tiếp tỏi, gia vị và sau cùng cho đậu, dầu vừng quấy đều ăn là được.
Bài 4
Rễ, thân, lá, phơi khô sắc uống hoặc đun uống thay nước hàng ngày, ngày dùng 100g

Một số bài thuốc nam chữa gan nhiễm mỡ
Bài 1
Hồng hoa 10g, kim ngân hoa 10g, hoa nhài 10g, đổ 200ml nước sôi vào cốc rồi cho cả 3 vị vào, đậy nắp lại trong 10 phút. Mỗi ngày uống 1 cốc thay chè, có thể uống thường xuyên
Bài 2
Sơn tra 15g, lá sen 15g. Sơn tra bỏ hạt cắt nhỏ, lá sen phơi khô, thái sợi, trộn đều 2 thứ, Cho vào nước sôi ngâm 20 phút, uống thay chè trong ngày, mỗi ngày 1 liều, chủ trị gan nhiễm mỡ.
Bài 3
Cỏ nhọ nồi 30g, nữ trinh tử 20g, trạch tả 15g, đương quy 15g. Trường hợp gan nhiễm mỡ do nghiện rượu thì thêm: Cát căn 30g, chỉ củ tử (hạt khúng khéng) 15g, bồ công anh 15g; Người béo phì dẫn đến gan nhiễm mỡ thì thêm: đại hoàng 6g, lá sen 15g. Sắc lấy nước uống, mỗi ngày một thang.
Xem tiếp…

NHỮNG BÀI THUỐC CHỮA BỆNH VIÊM GAN B HIỆU QUẢ BẰNG THỰC PHẨM

10:51 |
- Hỗ trợ chữa viêm gan, xơ cứng gan, có thể lấy táo tàu, lạc, đường đỏ, mỗi thứ 50 g, gạo tẻ 30 g, nấu cháo ăn hằng ngày. Mỗi liệu trình kéo dài 30 ngày.

- Chữa bệnh về gan do tỳ hư, xuất hiện báng ở bụng, chân tay mình mẩy phù thũng: Ý dĩ nhân (hạt bo bo), xích tiểu đậu, hạt sen (bỏ tâm và vỏ cứng ở ngoài), ngó sen, mỗi thứ lượng bằng nhau, nấu cháo ăn vào buổi tối.
                                       
  
- Chữa viêm gan loại hoàng đản (da vàng mắt vàng): Bột bạch phục linh 20 g, xích tiểu đậu 50 g, hạt bo bo 100 g. Ngâm xích tiểu đậu nửa ngày rồi cho vào nấu cháo cùng hạt bo bo, khi chín nhừ thì cho thêm bột phục linh vào nấu tiếp, sau đó cho ít đường trắng để ăn trong ngày (chia mấy lần tùy ý).

- Chữa xơ gan cổ trướng: Bột ngó sen 10-15 g, hạt bo bo 50-100 g, táo tàu 10 quả (bỏ vỏ và hạt). Nấu hạt bo bo cho chín mềm, cho táo tàu vào đun sôi trở lại. Sau đó cho bột ngó sen (đã hòa cho tan đều với nước sôi) vào đun sôi lại lần nữa là được. Chia làm 2 phần ăn trong ngày.

- Hỗ trợ chữa bệnh viêm gan hoàng đản truyền nhiễm cấp tính: Nhân trần 30-60 g, gạo tẻ 50-100 g, đường trắng vừa đủ. Rửa sạch nhân trần, nấu lấy nước, bỏ bã. Gạo tẻ vo sạch, nấu với nước nhân trần thành cháo, cho đường vào khuấy đều, chia làm 2-3 lần ăn trong ngày. Mỗi liệu trình dài 7-10 ngày.

- Hỗ trợ chữa bệnh viêm gan B: Quyết minh rang cháy 0,2 g, gạo tẻ, đường mạch nha lượng vừa đủ. Nấu quyết minh với nửa tô cháo gạo tẻ, sau đó đường mạch nha vào, chia làm 2 phần, ăn trong ngày
.
Xem tiếp…

CHỮA BỆNH VIÊM GAN B HIỆU QUẢ BẰNG NHỮNG THẢO DƯỢC TỪ THIÊN NHIÊN

09:36 |

Hiện nay có rất nhiều các phương pháp Tây y hiện đại chữa bệnh gan.Dù vậy, nhiều người vẫn chọn cách sử dụng thảo  dược bởi thảo dược rất lành tính và gần như không có tác dụng phụ.Những thảo dược dễ tìm hiện nay:


Râu ngô (bắp): có chứa nhiều xitosteol, saponin, tinh dầy, viatmin C,K, canxi và kali. Uống nước râu bắp ngoài lợi tiểu còn làm tăng sự bài tiết mật, làm giảm tỉ trọng và sắc tố mật trong máu, thanh nhiệt, giải độc mát gan, hỗ trợ điều trị mụn nhọt, mẩn ngứa.         
Nấm linh chi có tác dụng nâng cao khả năng miễn dịch cơ thể, nâng cao khả năng tái sinh của tế bào gan, nấm linh chi điều trị các loại bệnh viên gan cấp tính và mạn tính có hiệu quả rất tốt, nhất là bệnh viêm gan cấp tính..
Diệp hạ châu - dân gian thường gọi là cây chó đẻ răng cưa, là loài cỏ sống hàng năm hoặc nhiều năm, gốc hóa gỗ thân nhẵn, có nhiều cành mang lá. Hoa quả mọc phía dưới lá, ra hoa kết quả quanh năm. Năm 1998, trên thế giới đã có nước công bố nghiên cứu thành công điều trị viêm gan do virus B bằng Diệp hạ châu đắng.
   
Cà gai leo có tên khoa học là Solanum hainanense Hance Solanaceae. Các nhà khoa học đã phát hiện ra hoạt chất mới trong cây cà gai leo (tên khoa học là Solanum hainanense Hance Solanaceae), có tác dụng ức chế sự sao chép, làm âm tính virus viêm gan B, chống viêm gan.
 
Cây Bồ công anh (còn gọi cây Ma bay): Bồ công anh có vị đắng, tính mát, tác dụng thanh nhiệt giải độc. Bồ công anh rất tốt cho gan mật nhờ vai trò kiểm soát được lượng mỡ vào cơ thể và tăng cường chức năng giải độc cho gan.
Chữa bệnh gan hiệu quả bằng 16 loại dược thiện dễ tìm 4   
Cây Cỏ mực (cây Nhọ nồi): xưa nay ở Việt Nam dân gian biết đến cây này với tác dụng cầm máu. Tại Ấn Độ, cỏ mực được dùng để trị, sưng gan, vàng da, phù trướng, ăn khó tiêu, chảy máu miệng, giúp lành vết thương.
 
Xuyên tâm liên (còn gọi cây Công cộng, Lá đắng, Khô đảm thảo): Theo y học cổ truyền nó có tính mát, vị đắng và được xếp vào nhóm thuốc thanh nhiệt giải độc. Chất đắng trong Xuyên tâm liên có khả năng chống oxy hóa tế bào gan, giúp cải tạo các tế bào gan bị xơ và hư tổn do hóa chất, bia rượu, thuốc lá, tăng cường chức năng thải độc của gan.
Chữa bệnh gan hiệu quả bằng 16 loại dược thiện dễ tìm 6   
Bupleurum là một loài thực vật có hoa thuộc họ Apiaceae, ở Việt Nam gọi là cây Sài hồ. Đây là loài đặc hữu của Ý. Môi trường sống tự nhiên của chúng là thảm cây bụi kiểu Địa Trung Hải. Theo Đông y, sài hồ vị đắng, tính mát có tác dụng tán nhiệt giải biểu, làm thông lợi gan, giảm đau.   
   
Chiết xuất từ cây kế sữa cũng được biết đến bởi những bài thuốc phức tạp của Trung Hoa, là thảo dược phổ biến nhất cho bệnh gan. Nó được cho là có tác dụng giải độc cho gan và giúp sửa chữa các mô bị hư hại bằng cách thúc đẩy tăng trưởng của các tế bào gan khỏe mạnh.
   
Rễ cam thảo (glycyrrhizin) dường như hoạt động bằng cách giữ virus viêm gan trong các tế bào và ngăn ngừa lây lan. Nó cần được thực hiện với các loại thực phẩm có nhiều chất kali như chuối và trái cây hoặc nước trái cây.
Chữa bệnh gan hiệu quả bằng 16 loại dược thiện dễ tìm 10   
Ác-ti-sô được dùng làm thuốc thông mật, điều trị hỗ trợ trong các bệnh viêm gan, suy gan. Dạng dùng là lá tươi hoặc khô, sắc uống hoặc nấu cao rồi bào chế thành viên, hay chiết xuất thành dạng cao lỏng tinh chế, dùng dưới hình thức giọt.
Chữa bệnh gan hiệu quả bằng 16 loại dược thiện dễ tìm 11   
Dành dành: Trong y học cổ truyền dành dành là một vị thuốc được dùng từ lâu đời chữa bệnh vàng da, nó còn có tác dụng kháng khuẩn và chống viêm.
Chữa bệnh gan hiệu quả bằng 16 loại dược thiện dễ tìm 12   
Đại hoàng: Có tác dụng làm tăng tiết mật, kháng khuẩn, lợi niệu. Với liều vừa phải (0,5-2 g), nó chữa các chứng vàng da, kém ăn, ăn không tiêu.
Chữa bệnh gan hiệu quả bằng 16 loại dược thiện dễ tìm 13   
Hoàng cầm: Có tác dụng ức chế kháng nguyên bề mặt của virus gây bệnh viêm gan B. Trong y học cổ truyền, hoàng cầm được dùng điều trị bệnh vàng da.
Chữa bệnh gan hiệu quả bằng 16 loại dược thiện dễ tìm 14   
Nhân trần: Cao chiết từ nhân trần có tác dụng làm tăng tiết mật, tăng chức năng thải trừ của gan, kháng khuẩn và chống viêm. Nhân trần đã được áp dụng điều trị cho các bệnh nhân mắc viêm gan do virus cấp tính, bệnh vàng da.Trong y học cổ truyền, nhân trần được dùng chữa vàng da, sốt nóng, tiểu tiện không thông.
   
Nghệ: Tinh dầu nghệ có tác dụng làm tăng tiết mật nhờ thành phần p-tolylmethyl carbinol. Một bài thuốc có nghệ đã được áp dụng điều trị viêm gan do virus và hầu hết bệnh nhân thử nghiệm đều khỏi. Nghệ còn có tác dụng chống viêm và kháng khuẩn. Trong y học cổ truyền, nghệ được dùng chữa bệnh vàng da.   
Xem tiếp…

NHỮNG LOẠI THUỐC HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN B HIỆN NAY

07:23 |
Các chọn lựa cho việc điều trị viêm gan B mạn hiện nay tốt hơn so với trước kia. Hiện tại, có ít nhất 6 loại thuốc để sử dụng, do đó thầy thuốc có nhiều chọn lựa để tìm ra loại thuốc (hoặc phối hợp thuốc) tốt nhất cho từng người bệnh. Bài viết ngắn sau đây sẽ giúp thầy thuốc hiểu rõ hơn về từng loại thuốc cùng với những ưu và nhược điểm của chúng.


1- Interferon (interferon alpha-2b hoặc interferon pegylat hoá=Peg-Interferon)

Ưu điểm:

Thường là chọn lựa tốt cho bệnh nhân trẻ tuổi, không có bệnh lý nặng về gan (bệnh lý xơ gan còn bù tốt).

Chọn lựa tốt cho nhiễm virus viêm gan B genotype A.

Thời gian điều trị tương đối ngắn (24 đến 48 tuần) so với các thuốc điều trị viêm gan B khác.

Nhược điểm:

Có thể gây ra những tác dụng phụ rất nặng ở một số người.

Không sử dụng cho các bệnh nhân xơ gan mất bù.

Chi phí điều trị cao nhất (interferon thường hoặc pegylat hoá= Peg-Interferon) so với các thuốc khác.

Interferon pegylat hoá (Peg-Interferon) chưa được chấp thuận dùng cho trẻ em.

Liều lượng:

Tiêm dưới da 180 mcg (lọ 1 mL hoặc ống tiêm chứa sẵn thuốc 0.5 mL) mỗi tuần một lần trong 48 tuần

2- Lamivudine

Ưu điểm:

Ít tốn kém nhất so với các thuốc điều trị viêm gan B khác.

Thuốc đã được sử dụng từ lâu nên tính an toàn đã được kiểm chứng.

Có thể hữu ích khi phối hợp với tenofovir để điều trị bệnh nhân viêm gan B đồng nhiễm HIV.
Có thể sử dụng cho cả người lớn lẫn trẻ em.

Nhược điểm:

Thường mất hiệu quả điều trị đối với virus viêm gan B do kháng thuốc.

Do kháng thuốc nên ít hiệu quả hơn so với các thuốc mới dùng điều trị viêm gan B.

Cần điều trị trong thời gian dài.

Liều lượng:


Người lớn và trẻ em từ 2 đến 17 tuổi


Uống 3 mg/kg/ngày (tối đa, 100 mg/ngày). Tính an toàn và hiệu quả khi điều trị trên 1 năm chưa được biết rõ.

3- Adefovir dipivoxil


Ưu điểm:

Có thể sử dụng cho những bệnh nhân viêm gan B kháng lamivudine.
Nhược điểm:

Liều cao có thể gây độc cho thận.

Cần điều trị trong thời gian lâu dài.

Liều lượng:

Người lớn và trẻ em từ 12 tuổi trở lên

Uống 10 mg/ ngày.

4- Entecavir

Ưu điểm:

Tỉ lệ kháng thuốc rất thấp.

Có thể hữu ích cho những bệnh nhân suy giảm chức năng gan (xơ gan mất bù).

Nhược điểm:

Là một thuốc mới, do đó tính an toàn chưa được hiểu biết tường tận, đặc biệt trong một số trường hợp nhất định.

Được biết là gây ung thư khi dùng liều cao ở loài gậm nhấm, nhưng chưa đủ dữ liệu để kết luận đối với người.

Đòi hỏi điều trị trong thời gian lâu dài.

Liều lượng:

+ Dùng chung với Lamivudine hoặc đối với các bệnh nhân đã kháng Lamivudine hoặc Telbivudine

Người lớn và trẻ em từ 16 tuổi trở lên

Uống 1 mg /ngày.

+ Những bệnh nhân chưa được điều trị với Nucleoside.

Người lớn và trẻ em từ 16 tuổi trở lên

Uống 0.5 mg /ngày.

5- Telbivudine

Ưu điểm:

Có thể có tác dụng kháng virus mạnh hơn lamivudine và adefovir.

Nhược điểm:

Cũng bị virus viêm gan B đề kháng như lamivudine.

Đòi hỏi thời gian điều trị lâu dài.

Không được chấp thuận sử dụng cho trẻ em.

Liều lượng:

Người lớn và trẻ em từ 16 tuổi trở lên

Uống 600 mg ngày một lần.

6- Tenofovir

Ưu điểm:

Sử dụng rất tốt cho những týp virus viêm gan B thông thường hoặc đã kháng thuốc.

Có thể là một chọn lựa điều trị tốt trong trường hợp không đáp ứng với adefovir.

Điều trị đồng thời cả HIV lẫn viêm gan B.

Nhược điểm:

Là một thuốc tương đối mới để điều trị viêm gan B, do đó cần có thêm nhiều nghiên cứu chuyên sâu hơn.

Chưa được chấp thuận dùng cho trẻ em.

Cần điều trị trong thời gian lâu dài.
Cần định kỳ kiểm tra chức năng thận trong thời gian điều trị.

Liều lượng:

Người lớn

Uống 300 mg/ngày trước hoặc sau bữa ăn. Thời gian điều trị tối ưu cho viêm gan B hiện chưa được biết rõ.
Xem tiếp…

THUỐC ENTECAVIR LOẠI THUỐC SỬ DỤNG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN B MÃN TÍNH

05:50 |
Bệnh lý viêm gan, có nghĩa là gan bị viêm nhiễm do rất nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân phổ biến nhất, hay gặp nhất hiện nay gây ra viêm gan là do nhiễm virus, do rượu, bia và một số loại thuốc. Viêm gan B hiện nay thường được nói đến đó là viêm gan do virus và virus gây bệnh viêm gan được gọi là virus viêm gan B (HBV)

Hầu hết những người bị viêm gan B cấp tính có thể phục hồi hoàn toàn. Tuy nhiên, có một tỷ lệ khoảng 5% những người lớn vẫn mang virus viêm gan B trong gan và những virus này tiếp tục sinh sôi phát triển trong nhiều năm. Những người vẫn mang trong cơ thể mình loại virus này sẽ có những tổn thương gan đi kèm với
tình trạng nhiễm virus lâu dài được gọi là viêm gan mãn tính. Viêm gan B mãn tính thường phát triển ở những người mắc phải virus viêm gan từ lúc còn trẻ tuổi. Hình thức nhiễm virus viêm gan này thường hay gặp ở những nước trong khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc và Châu Phi với tỉ lệ cứ 10 người nhiễm virus viêm gan B thì có 1 người mắc viêm gan mãn tính.

Tất cả trường hợp mắc viêm gan B mãn tính sẽ có nguy cơ cao về mắc các bệnh phức tạp khác như việc hình thành các sẹo ở gan gây ra xơ gan và ung thư gan. Người ta ước tính hiện nay trên thế giới có hơn 300 triệu người mang virus viêm gan B và trong số đó có 500.000 người tử vong hàng năm do các bệnh lý về gan có liên quan đến viêm gan B.

Triệu chứng của viêm gan ra sao?

Viêm gan B cấp tính:

Những triệu chứng đầu tiên của viêm gan B cấp tính thường không có gì đặc biệt, có thể là sốt, có nốt phát ban trên da, và đau khớp. Mặc dù có rất nhiều người không có biểu hiện gì, nhưng một số triệu chứng điển hình của viêm gan B cấp tính là mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, vàng da và đau vùng hạ sườn phải

Viêm gan B mãn tính:

Ở những trường hợp viêm gan B mãn tính, các triệu chứng có thể kéo dài trong nhiều năm. Rất nhiều người mang virus không có biểu hiện hay triệu chứng gì, một số người thì có các dấu hiệu của tình trạng viêm gan đang tiến triển như mệt mỏi và chán ăn. Những trường hợp đã phát triển thành xơ gan hoặc ung thư gan sẽ có thêm các triệu chứng như mệt mỏi, sụt cân, phù chân, bụng chướng, xuất huyết, rối loạn thần kinh và đau bụng

Điều trị như thế nào?

Khi bị viêm gan B mãn tính cần phải được điều trị để kiểm soát việc phát triển và sinh sôi của virus. Các liệu pháp kháng virus được chỉ định cho từng trường hợp viêm gan siêu vi B như khi làm xét nghiệm chức năng gan thấy có biểu hiện bất thường, HbeAg dương tính, chỉ số HBV DNA cao và khi làm sinh thiết cho kết quả gan bị viêm nhiễm.

Một số loại thuốc dùng bằng đường uống như Lamivudine, Adefovir và Entecavir là những loại thuốc có khả năng làm giảm hoặc ngăn chặn sự phát triển của virus viêm gan B. Trước khi điều trị Bác sĩ sẽ dựa trên các kết quả kiểm tra của từng người bệnh để lựa chọn phương án điều trị phù hợp và tối ưu hoá. Trong quá trình điều trị, người bệnh được theo dõi thường xuyên để đánh giá khả năng đáp ứng thuốc, các tác dụng phụ, khả năng kháng thuốc và tái phát sau khi đã kết thúc điều trị. Việc theo dõi định kỳ cũng rất cần thiết để quyết định có nên kéo dài việc điều trị hay không vì trong một số trường hợp, việc điều trị chỉ có kết quả khi virus ở trạng thái hoạt động.

Các trường hợp nhiễm virus viêm gan B rất đa dạng. Do đó kết quả điều trị phụ thuộc vào tốc độ phát triển của virus và khả năng kiểm soát viêm nhiễm của hệ miễn dịch. Ngoài ra, một số nhân tố khác cũng làm cho tình trạng viêm gan xấu đi như dùng quá nhiều bia, rượu và nhiễm thêm các loại virus viêm gan khác.

Nhìn chung, việc tầm soát ung thư gan định kỳ là rất cần thiết cho những người bị viêm gan B mãn tính, đặc biệt là ở người cao tuổi, những người bị xơ gan và những bệnh nhân có tiền sử gia đình bị ung thư gan. Việc kiểm tra sẽ bao gồm siêu âm gan định kỳ hàng năm hoặc sáu tháng một lần, cùng với xét nghiệm máu đánh giá chỉ số AFP, một loại protein được sản sinh bởi các tế bào ung thư gan được phát hiện trong máu.

Điều trị viêm gan B mãn tính bằng thuốc Entecavir

Entecavir là loại thuốc được sử dụng để điều trị viêm gan B mãn tính ở người lớn cho những trường hợp virus viêm gan B đang hoạt động hoặc có những tổn thương gan tiềm ẩn. Đây là một trong những loại hình điều trị hiện đang được ứng dụng cho viêm gan B mãn.

Chương trình điều trị viêm gan B mãn bằng thuốc Entecavir là 3 tháng, với kết quả:

Giảm lượng virus viêm gan B trong cơ thể

Làm giảm khả năng sinh sôi và phát triển của virus cũng như giảm khả năng tổn thương các tế bào gan mới

Cải thiện chức năng của gan

Cũng giống như một số loại thuốc khác, Entacavir cũng có thể gây ra tác dụng phụ ở một số bệnh nhân. Các tác dụng phụ phổ thông là đau đầu, mệt mỏi, tiêu chảy, khó tiêu và buồn nôn.
Xem tiếp…