PHÒNG TRÁNH BỆNH Ở NGƯỜI CAO TUỔI

14:23 |
Ăn nhiều đường mía cũng như ăn nhiều muối, nhiều chất béo đều dẫn đến bệnh béo phì, xơ cứng động mạch, huyết áp cao, đái tháo đường, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, khiến cơ thể dễ bị cảm cúm, loãng xương và bệnh mắt.

                                       


Chính vì vậy, người cao tuổi không nên ăn nhiều đường mía. Khi cần ăn ngọt, có thể dùng mật ong thay thế, và như vậy vừa có thể ăn ngọt lại vừa có thể bảo vệ sức khỏe.

Tác dụng của mật ong trong các trường hợp

1. Bệnh dạ dày

Những người trung niên và lớn tuổi bị các bệnh về dạ dày nên thường xuyên uống mật ong, bởi vì mật ong có tác dụng điều tiết acid dạ dày, có thể dần dần điều tiết độ acid đạt đến mức bình thường.

Cách dùng: những người dạ dày ít acid, trước bữa ăn có thể ăn một ít mật ong, cũng có thể pha một ít nước nguội vào để uống. Những người có nhiều acid dạ dày thì nên pha mật ong với nước ấm để uống trước bữa ăn một giờ rưỡi hoặc sau bữa ăn 3 giờ.

2. Bệnh hô hấp

Mật ong có tác dụng giảm viêm, giảm đờm, mát phổi, trị ho. Cách điều trị ho tốt nhất là ăn lê cùng với mật ong.

Cách làm: thái lát mỏng một quả lê rồi trộn với mật ong, một ngày ăn vài lần.

3. Bệnh tim mạch

Thường xuyên ăn mật ong có tác dụng bảo vệ mạch máu, hạ huyết áp, tăng cường tiêu hóa, dễ đại tiện.

Cách dùng: trước khi ăn sáng uống một cốc nước mật ong, và buổi tối trước khi đi ngủ lại uống một cốc nữa.

4. Bệnh đường ruột

Mật ong còn có tác dụng tăng cường sức co bóp của đường ruột, có thể rút ngắn rõ rệt thời gian đại tiện.

Cách dùng: uống khoảng 25g mật ong vào trước bữa ăn sáng và tối.

5. Giải rượu

Chất đường hoa quả trong mật ong có thể phân giải việc hấp thụ chất cồn, vì vậy có thể giúp tỉnh rượu nhanh hơn và không bị nhức đầu sau khi uống rượu. Ngoài ra, mật ong còn có tác dụng hỗ trợ cho việc điều trị các bệnh mạn tính như: viêm gan B, gan nhiễm mỡ, xơ gan…

Cách dùng: trước khi uống rượu nên ăn khoảng 50g mật ong hoặc mấy chiếc bánh quy phết mật ong. Sau khi uống rượu cũng nên uống nước mật ong. Mật ong sẽ nhanh chóng bổ sung nhu cầu năng lượng của não.

6. Cung cấp năng lượng

Cơ thể có thể nhanh chóng hấp thụ chất đường hoa quả và glucoza của mật ong, cải thiện tình hình dinh dưỡng trong máu.

Cách dùng: uống một cốc nước mật ong vào buổi trưa.

7. Giúp dễ ngủ

Glucoza, các vitamin, magiê, photpho trong mật ong có thể điều tiết chức năng của hệ thần kinh, khiến cho thần kinh đỡ căng thẳng và ngủ được ngon giấc.

Mật ong không có tác dụng phụ như những loại thuốc khác. Mật ong hoa táo có tác dụng hỗ trợ thần kinh tốt nhấ
Xem tiếp…

NGUYÊN NHÂN CÓ THỂ DẪN ĐẾN CÁC BỆNH VỀ GAN TỪ MẬT GẤU

14:16 |
Việc sử dụng mật gấu nhiều quá có thể dẫn đến các bệnh như xơ gan, bệnh tim, mỡ trong máu và có thể gây ung thư về lâu dài.
Chương trình Động vật hoang dã quốc tế thuộc Hiệp hội Bảo vệ Động vật Thế giới (WSPA) công bố báo cáo phân tích thái độ và hành vi sử dụng mật gấu tại Việt Nam. Theo báo cáo của WSPA, các mẫu mật gấu của những cá thể gấu được cứu hộ từ các trang trại cho thấy mật gấu bị nhiễm vi khuẩn rất nhiều. Ngoài ra, việc sử dụng mật gấu nhiều quá có thể dẫn đến các bệnh như xơ gan, bệnh tim, mỡ trong máu và có thể gây ung thư về lâu dài.

                                        

Học vấn cao sử dụng nhiều mật gấu

Bà Vũ Thị Quyên, GĐ TT Giáo dục Thiên nhiên (ENV) cho biết, được TCty Truyền thông đa phương tiện (VTC) lựa chọn ngẫu nhiên và cung cấp gần 9.000 số điện thoại, ENV đã tiến hành khảo sát phỏng vấn ngẫu nhiên với 3.032 người từ 3 TP lớn của Việt Nam: Hà Nội (đại diện cho miền Bắc), Đà Nẵng (miền Trung) và TP. HCM (miền Nam) về động cơ sử dụng mật gấu và đánh giá tác động của yếu tố địa lý đối với thái độ và hành vi sử dụng mật gấu.

Kết quả cho thấy: Hà Nội có tỷ lệ sử dụng mật gấu cao hơn nhiều so với Đà Nẵng và TP.HCM. Cụ thể, Hà Nội có tới 35% số người được hỏi đã sử dụng mật gấu, trong khi con số ở TP.HCM chỉ là 16% và Đà Nẵng là 15%.

Cũng theo kết quả phỏng vấn khảo sát thì người có trình độ học vấn cao (trung cấp trở lên) có xu hướng sử dụng mật gấu nhiều hơn người có trình độ học vấn thấp (trung học trở xuống).

Cùng với đó, tỷ lệ nam sử dụng mật gấu cao hơn nữ: 29% nam giới nói rằng đã sử dụng mật gấu, tỷ lệ này ở nữ giới là 17%.

Phụ nữ chủ yếu sử dụng mật gấu để chữa bệnh (88%), còn nam giới sử dụng mật gấu với nhiều mục đích khác nhau: chữa bệnh (58%), bồi bổ sức khỏe (26%) và giải trí (25%). Nam giới có xu hướng sử dụng mật gấu cho mục đích giải trí gấp 12 lần so với nữ giới.

Khảo sát cũng cho thấy sử dụng mật gấu tăng theo độ tuổi, những người trẻ ở độ tuổi 20 và những người già từ 60 trở lên chủ yếu sử dụng mật gấu để chữa bệnh. Ngược lại, những người trung niên (trong độ tuổi 30-50) lại sử dụng mật gấu cho nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là khả năng sử dụng mật gấu cho mục đích giải trí của nhóm này cao hơn các nhóm tuổi khác đến 2 lần.

Hiểu về mật gấu, nhiều người trả lời là mật gấu được coi là thần dược, chữa được bách bệnh, từ sưng tấy, bầm tím, bệnh về đường tiêu hóa thậm chí đến cả bệnh ung thư. Ngoài ra, mật gấu còn được dùng để bồi bổ sức khỏe (24%) và giải trí (14%).

Hầu hết (74%) những người được phỏng vấn đều cho rằng sử dụng mật gấu không vi phạm pháp luật…

Tuy nhiên, nói về thực trạng loài gấu ở Việt Nam hiện nay, bà Quyên cho biết, hiện số gấu thống kê được ở Việt Nam chỉ còn khoảng 3.500 cá thể gấu nuôi nhốt thuộc hai loài gấu: gấu ngựa và gấu chó. Một số nhà khoa học cho rằng còn rất ít cá thể gấu được ghi nhận còn tồn tại trong tự nhiên và quần thể gấu trong tự nhiên ở Việt Nam đã suy giảm nghiêm trọng.

Gấu ngựa và gấu chó đều được liệt vào danh mục các loài “dễ bị tổn thương” trong Sách Đỏ IUCN 2010. Số lượng gấu này ở Việt Nam cũng chiếm khoảng 10% số lượng gấu trên toàn thế giới.
Cả hai loài gấu ngựa và gấu chó cũng đều được bảo vệ trong nhóm 1B của Nghị định 32/2006/NĐ-CP (động vật rừng nguy cấp, quý hiếm). Theo đó, việc săn bắt, buôn bán, vận chuyển, mua và bán gấu hay cá bộ phận, dẫn xuất từ gấu (kể cả mật gấu) đều là vi phạm pháp luật.

Mật gấu không phải là thần dược

Ông Chris Gee, Giám WSPA cho hay: qua nghiên cứu cho thấy mật gấu có thành phần hóa chất có thể có tác dụng chữa bệnh nào đó nhưng ở Việt Nam mọi người lại tin rằng mật gấu có thể chữa được nhiều bệnh. Thực chất, hóa chất trong mật gấu có thể tìm thấy trong các cây thuốc, dược liệu thay thế tại chính Việt Nam.

Theo đó, WSPA đã hỗ trợ cho một chương trình tìm những cây thuốc, cây dược liệu có tính năng chữa bệnh tương tự như mật gấu. Danh sách các cây thuốc này sẽ được WSPA sớm công bố.

Liên quan đến sử dụng mật gấu để chữa bệnh, Ts. Tuấn Bendixsen, Trưởng đại diện Việt Nam của Tổ chức Động vật Châu Á (AAF) cũng nhấn mạnh, mật gấu trên thị trường hiện nay không đảm bảo an toàn vệ sinh, nhận định này được kiểm chứng bằng việc xét nghiệm các mẫu mật gấu của những cá thể gấu được cứu hộ từ các trang trại cho thấy mật gấu bị nhiễm vi khuẩn rất nhiều. Theo ông Tuấn, sử dụng mật gấu nhiều quá có thể dẫn đến các bệnh như xơ gan, bệnh tim, mỡ trong máu và có thể gây ung thư về lâu dài.
Xem tiếp…

NHỮNG ĐIỀU NÊN KIÊNG CHO NGƯỜI BỆNH XƠ GAN

14:04 |
Xơ gan rất dễ dẫn đến ung thư gan và các bệnh gan mãn tính. Xơ gan tuy khó chữa nhưng nếu phát hiện sớm và có phương phát điều trị hợp lý và chế độ dinh dưỡng phù hợp sẽ giúp bệnh nhân cải thiện được các triệu chứng và phòng ngừa được các biến chứng có thể xảy ra. Dưới đây là những lời khuyên về chế độ dinh dưỡng đối với người mắc bệnh xơ gan:

Người bị xơ gan nên:

- Tuyệt đối không uống rượu.
                                               

- Cân đối giữa các thành phần như chất đường, chất béo, chất đạm, rau và trái cây.

- Bệnh nhân bị bụng báng phải hạn chế ăn muối, nước tương, nước mắm, chao và tất cả những thức ăn có vị mặn. Lượng muối natri không vượt quá 1.000 mg mỗi ngày, tương đương khoảng 2,5 g muối ăn.

- Hạn chế ăn những thức ăn đóng hộp, thức ăn chế biến sẵn và những thức ăn bán ngoài hàng ăn vì chúng chứa nhiều muối và nhiều bột ngọt. Nên nhớ rằng, bột ngọt cũng có nhiều muối natri trong đó.

- Uống khoảng 1-1,5 lít nước mỗi ngày.

- Nên tránh ăn mỡ động vật, bơ mà thay bằng dầu hoặc bơ thực vật.

- Người bị xơ gan có nhu cầu về chất đạm tương tự như người bình thường. Trung bình người lớn cần mỗi ngày khoảng 1 g protein cho mỗi kg cân nặng, nghĩa là một người nặng 50 kg cần khoảng 50 g protein. Những thức ăn có nhiều chất đạm là thịt và các sản phẩm chế biến từ thịt (chứa 20% protein), cá (20%), trứng (13%), ngũ cốc (10%), sữa (3%). Khi bệnh nhân xơ gan bị lơ mơ hay hôn mê, phải ngưng ăn chất đạm hoàn toàn.

- Rau và trái cây tươi là nguồn cung cấp vitamin và các khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể và hoạt động của gan.

Để phòng bệnh xơ gan, nên hạn chế uống rượu và tiêm phòng viêm gan B, (cần tiêm sớm cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ). Đối với những người đã bị viêm gan B hoặc C mạn tính, cần theo dõi định kỳ 3 hoặc 6 tháng một lần để phát hiện và điều trị sớm những trường hợp viêm gan đang tiến triển, nhằm hạn chế các biến chứng nặng như xơ gan và ung thư gan. Cần theo dõi sức khỏe định kỳ để phát hiện và điều trị sớm các bệnh lý gây viêm gan do các nguyên nhân khác như suy tim, tắc mật.
Xem tiếp…

NHỮNG BIẾN CHỨNG NGUY HIỂM CỦA BỆNH XƠ GAN CỔ CHƯỚNG

13:46 |
Cổ Chướng là biến chứng thường gặp của xơ gan. Khoảng 50% bệnh nhân (BN) xơ gan còn bù (chưa có biểu hiện lâm sàn) sẽ xuất hiện cổ chướng trong vòng 10 năm. Sự xuất hiện cổ chướng là một bước ngoặt đặc biệt trong diễn biến tự nhiên của xơ gan, vì sau đó 2 năm khoảng 50% BN tử vong. Theo định nghĩa của Câu Lạc bộ cổ chướng quốc tế, cổ chướng đơn thuần là cổ chướng không có nhiễm khuẩn và không tiến triển đến hội chứng gan thận, được chia làm 3 mức độ:

Độ 1: Cổ trướng ít chỉ phát hiện trên siêu âm.

Độ 2: Cổ trướng trung bình

Độ 3: Cổ trướng căng.

Cổ trướng dai dẵng là cổ chướng không kiểm soát được bằng thuốc hoặc tái phát sau chọc tháo, gồm 2 nhóm:

Nhóm 1: Cổ chướng kháng trị (không đáp ứng liều cao thuốc điều trị)

Nhóm 2: Cổ chướng khó trị (khó kiểm soát do xuất hiện tác dụng phụ của thuốc làm hạn chế liều lợi tiểu hiệu quả).

Về điều trị, cổ trướng độ 1 chỉ cần hạn chế muối trong chế độ ăn trong khoảng 90mmol Na+/ngày là đủ, bằng cách không cho thêm muối vào thức ăn và tránh thức ăn chế biến sẵn. Hạn chế nước không được khuyến cáo cho BN cổ chướng đơn thuần. Bệnh nhân cổ trưởng độ 2, ngoài việc hạn chế muối, thường phải sử dụng thuốc lợi tiểu. Thuốc ưu tiên lựa chọn đầu tiên là Spironolactone, thuốc lợi tiểu kháng aldosterone. Trong nhiều trường hợp, có thể phối hợp với Furosemide (không sử dụng đơn thuần vì hiệu quả kém). Trường hợp cổ trướng độ 3, cổ trướng dai dẳng, thường sẽ phải phối hợp điều trị thuốc với chọc tháo dịch cổ trướng nhiều lần kèm truyền albumin.

Nhiễm trùng dịch cổ chướng

Nhiễm trùng dịch cổ chướng (NTDCC) là biến chứng thường gặp, gặp ở 10 – 30% BN xơ gan nhập viện.

BN bị NTDCC có thể có một vài biểu hiện như sốt, đau bụng âm ỉ, buồn nôn hoặc đi ngoài phân lỏng nhiều lần. Tuy nhiên, nhiều BN có triệu chứng rất mờ nhạt, vì thế biến chứng này cần được tìm ở BN mới xuất hiện hôn mê gan, suy giảm chức năng thận hoặc tăng bạch cầu máu ngoại vi.

Điều trị NTDCC là sử dụng kháng sinh phổ rộng ngay sau khi có chẩn đoán (nhóm Cephalosporin (Cefotaxime 4g/ngày) trong thời gian 7 – 10 ngày) phối hợp với truyền albumin và chọc tháo dịch màng bụng. Khoảng 1/3 trường hợp BN sẽ tiến triển suy thận, yếu tố dự báo nguy cơ tử vong. Vì thế, rất thận trọng sử dụng thuốc lợi tiểu và thuốc độc với thận.

Tiên lượng dài của BN xơ gan NTDCC là rất xấu, tỷ lệ tử vong đã được báo cáo là 50 – 70% trong một năm. Tỷ lệ tái phát sau một năm là 70%. Vì vậy, BN cần được điều trị dự phòng tái phát bằng kháng sinh đường uống, như Nofloxacin 400mg/ngày hoặc Ciprofloxacin 500mg/ ngày, tối thiểu 6 – 12 tháng. Đối với bệnh nhân có nguy cơ NTDCC cao như xuất huyết tiêu hoá, bệnh nhân xơ gan điều trị nội trú có protein dịch màng bụng <10g/l có thể cân nhắc dự phòng bằng Nofloxacin 400mg hoặc Ciprofloxacin 500mg * 2lần/ngày trong 7 ngày.

Hội chứng gan thận

Hội chứng gan thận, một biến chứng rất nặng của xơ gan, là tình trạng suy giảm chức năng thận do hậu quả của rối loạn chức năng tuần hoàn hệ thống (giãn các động mạch ngoài thận và co thắt động mạch thận, não và gan) dẫn đến giảm dòng máu động mạch tới thận gây suy thận (không phải do bệnh thận thực tổn). Yếu tố thúc đẩy dẫn đến hội chứng gan thận chủ yếu là tình trạng nhiễm trùng, đặc biệt là NTDCT. Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng gan thận cập nhật 2007 bao gồm:

- Xơ gan có dịch cổ chướng.

- Nồng độ Creatinine huyết thanh >133 mol/l

- Không giảm nồng độ creatinine huyết thanh xuống dưới mức 133 mol/l sau ít nhất 2 ngày dừng thuốc lợi tiểu và bồi phục thể tích tuần hoàn bằng truyền albumin

- Không có tình trạng sốc

- Không sử dụng các thuốc độc với thận.
                                                   


- Không có bệnh lý nhu mô thận (không có triệu chứng protein niệu >0.5g/ngày, hồng hậu niệu và/ hoặc bất thường thận trên siêu âm. Hội chứng gan thận có 2 tuýp. Tuýp 1 đặc trưng bởi suy thận tiến triển nhanh, có nồng độ creatinine tăng gấp đôi so với lúc đầu trong vòng 2 tuần, tới mức trên 226mol/l, tiên lượng rất xấu, tỷ lệ tử vong rất cao. Tuýp 2 đặc trưng bởi suy thận tiến triển từ từ, nồng độ creatinine máu trong khoảng 133 tới 226 mol/l, tiên lượng tốt hơn tuýp 1. Tuy nhiên, cũng là nguyên nhân thường gặp gây tử vong cho bệnh nhân ngoài các biến chứng nặng khác. Điều trị hội chứng gan thận còn gặp nhiều hạn chế. Thuốc điều trị hiện tại được chứng minh có tác dụng là Terlipressin phối hợp với truyền albumin, tuy nhiên cũng là để kéo dài thời gian chờ ghép gan.

Giãn tĩnh mạch thực quản, tĩnh mạch phình vị và biến chứng xuất huyết tiêu hóa
                             
Xơ gan có thể dẫn tới tăng áp lực tĩnh mạch (TM) cửa, hậu quả là hình thành một số tuần hoàn bàng hệ để máu từ tĩnh mạch cửa về tĩnh mạch chủ không qua gan, trong đó bàng hệ quanh thực quản, dạ dày là hay gặp nhất. Khoảng 40% bệnh nhân xơ gan giai đoạn Child A có giãn tĩnh mạch thực quản, tỷ lệ này tăng lên theo mức độ nặng nhẹ của xơ gan, ở giai đoạn xơ gan Child C là 85%, Nếu bệnh nhân chưa có giản tĩnh mạch, tỷ lệ xuất hiện búi giãn là 8%/năm. Bệnh nhân có búi giãn nhỏ có tỷ lệ tăng kích thước búi giãn lớn hơn khoảng 8%/năm. Nguy cơ vỡ búi giãn hàng năm khoảng 5 - 15%, tỷ lệ cao đối với búi giãn lớn độ III. Khi đã vỡ búi giãn, tỷ lệ tử vong trong 6 tuần đầu là 20%. Tỷ lệ tái phát xuất huyết trong 1 – 2 năm là 60% nếu bệnh nhân không được điều trị.

Tất cả bệnh nhân mới chẩn đoán xơ gan phải nội soi dạ dày để phát hiện và đánh giá tình trạng giãn tĩnh mạch thực quản và dạ dày. Trên nội soi, giãn tĩnh mạch thực quản được chia làm 3 độ tăng dần theo kích thước búi giãn. Lưu ý các dấu hiệu báo động nguy cơ vỡ cao: dấu hiệu đỏ trên búi giãn, có kèm viêm thực quản trào ngược, có loét… Giãn tĩnh mạch dạ dày gồm 2 loại: Giãn tĩnh mạch thực quản - dạ dày là sự kéo dài của búi giãn tĩnh mạch thực quản và giãn tĩnh mạch dạ dày đơn độc.

Đối với bệnh nhân không có giãn tĩnh mạch thực quản, dạ dày, nếu xơ gan còn bù nên nội soi định kỳ kiểm tra cách 3 năm; nếu xơ gan mất bù, nội soi kiểm tra định kỳ hàng năm. Bệnh nhân xơ gan có búi giãn nhỏ chưa từng chảy máu nhưng có dấu hiệu nguy cơ chảy máu, cần sử dụng thuốc chẹn beta giao cảm không chọn lọc để dự phòng xuất hiện vỡ búi giãn tĩnh mạch lần đầu. Bệnh nhân có búi giãn nhỏ chưa từng chảy máu và không có dấu hiệu nguy cơ chảy máu, có thể sử dụng thuốc chẹn beta giao cảm hoặc không; nếu bệnh nhân không dùng thuốc, cần kiểm tra cách 2 năm, hoặc hàng năm nếu có triệu chứng xơ gan mất bù.

Đối với bệnh nhân có búi giãn trung bình và lớn, chưa từng xuất huyết nhưng có nguy cơ vỡ cao, thuốc chẹn beta giao cảm không chọn lọc (propranolol) hoặc thắt búi giãn tĩnh mạch bằng vòng cao su được khuyến cáo để ngăn ngừa xuất huyết lần đầu. Đối với bệnh nhân không có nguy cơ vỡ cao, thuốc chẹn beta giao cảm được ưu tiên sử dụng hơn, và thắt búi giãn tĩnh mạch bằng vòng cao su hoặc tiêm xơ búi giãn được chỉ định cho bệnh nhân có chống chỉ định hoặc không dung nạp thuốc chẹn beta. Bệnh nhân sử dụng thuốc chẹn beta, cần phải được tăng dần liều cho tới liều hiệu quả, nghĩa là phải giảm được 25% tần số tim của bệnh nhân lúc nghỉ. Nếu điều trị bằng thắt tĩnh mạch thực quản bằng vòng cao su hoặc tiêm xơ búi giãn, nội soi nên được tiến hành lại sau 2 – 3 tuần để thắt hoặc tiêm xơ tiếp cho triệt để, sau đó nội soi kiểm tra định kỳ cứ 3 – 6 tháng.

Bệnh nhân xơ gan có xuất huyết tiêu hoá là một cấp cứu. Bệnh nhân sẽ được bù dịch và máu để đảm bảo huyết động, nội soi can thiệp cắt búi giãn vỡ tĩnh mạch thực quản bằng vòng cao su hoặc tiêm xơ cầm tĩnh mạch phình vị kết hợp các thuốc làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa (somatostatin, octreotide…) và dự phòng các biến chứng khác (hôn mê gan, NTDCT). Những bệnh nhân sống sau lần xuất huyết đầu tiên sẽ phải được điều trị dự phòng tái xuất huyết tiêu hoá bằng phối hợp thuốc chẹn beta giao cảm và nội soi can thiệp. Các kỹ thuật nội soi can thiệp phải được lặp lại sau 2 – 3 tuần cho đến khi hết búi giãn, sau đó nội soi kiểm tra định kỳ cứ 6 – 12 tháng. Một số bệnh nhân tái phát xuất huyết nhiều lần có thể cân nhắc làm cầu nối cửa – chủ bằng phẫu thuật.

Bệnh lý não gan

Bệnh lý não – gan là biến chứng thần kinh nặng của xơ gan, nó ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống. Bệnh được định nghĩa là các bất thừơng về thần kinh tâm thần gặp ở bệnh nhân xơ gan sau khi đã loại trừ các bệnh lý tại não. Bệnh lý não – gan được chia làm 4 giai đoạn:

Giai đoạn 0: Không có bất thường

Giai đoạn 1: Giảm nhận thức, lo lắng, mất tập trung.

Giai đoạn 2: Thờ ơ, mất định hướng thời gian, thay đổi tính cách rõ rệt, hành vi không thích hợp.

Giai đoạn 3: Ngủ gà nhưng còn đáp ứng với các kích thích, lẫn lộn, mất định hướng toàn thể, có hành vi bất thường.
                             
Giai đoạn 4: Hôn mê, các test thần kinh không đáp ứng. Các test tâm tý thường được sử dụng để phát hiện bệnh lý não – gan tối thiểu (test nối số…). Các bệnh nhân xơ gan có biểu hiện của bệnh lý não – gan tối thiểu cần được tư vấn tránh các công việc cần sự tập trung cao. Những trường hợp hôn mê gan, cần phải được điều trị chăm sóc tích cực, giảm lượng protein trong chế độ ăn trong những ngày đầu và nuôi dưỡng bằng Glucose đường tĩnh mạch giảm sự hấp thu các hợp chất chứa nitơ từ đường tiêu hoá bằng thuốc Lactulose và kháng sinh đường ruột (Metronidazole hoặc Ciprofloxacin), tìm và xử trí các yếu tố thúc đẩy bệnh xuất huyết tiêu hoá, tình trạng nhiễm trùng, suy thận và rối loạn điện giải, quá liều các thuốc an thần, suy giảm đột ngột chức năng gan… Sau khi bệnh nhân qua được tình trạng hôn mê cấp, cần điều trị bệnh lý não – gan mạn tính bằng cách tránh và dự phòng các yếu tố nguy cơ, đảm bảo chế độ dinh dưỡng hợp lý tránh suy dinh dưỡng, sử dụng Lactulose hàng ngày liều 2 – 3 gói/ngày sau cho bệnh nhân đi ngoài phân mềm khoảng 2 -3 lần/ngày.
Xem tiếp…

NGUYÊN NHÂN VÀ TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH XƠ GAN CỔ CHƯỚNG

13:21 |
Xơ gan : là một dạng của suy gan trong đó mô gan bị tổn thương được thay bằng mô sẹo. Khi có nhiều mô gan bị mất đi thì suy gan diễn ra. Nguyên nhân thường gặp là do rượu, vi rút, hoặc bệnh gan nhiễm mỡ
Suy gan cấp tính có thể dẫn đến cổ trướng.
Hội chứng budd – Chiari do tắc nghẽn của tĩnh mạch gan. Gay ra 3 chứng : cổ trướng, đau bụng, , phì đại gan lách

Ung thư có di căn hoặc lan sang gan cũng có thể là nguồn gốc của cổ trướng
                                           
Tại sao bệnh gan gây ra bụng chướng và phù ?

Ở bệnh nhân bị bệnh gan mãn tính ,chứng xơ hoá gan thường xảy ra và có thể dẫn đến xơ gan . Cổ trướng là chất lỏng quá độ tích luỹ trong khoang màng bụng . Nó là biến chứng của xơ gan và xuất hiện như phình ra bụng. Phúc mạc là lớp bên trong của ổ bụng, cũng nếp trên để bao bọc cơ quan bên trong bụng như là gan, túi mật, lách, tụy, và ruột. Cổ trướng phát triển vì kết hợp của hai yếu tố :

tăng áp suất trong hệ tĩnh mạch mang máu từ dạ dày, ruột, và lách đến gan ( tang huyết áp kịch phát ) ; và

giảm albumin trong máu. Albumin là protein nổi bật trong máu và mà giúp duy trì thể tích máu, bị giảm xuống trong xơ gan chủ yếu vì gan bị tổn thương không thể tạo ra đủ của nó.

Hậu quả khác của tăng huyết áp kịch phát bao gồm giãn tĩnh mạch trong thực quản , tĩnh mạch nổi bật trên bụng, và lách sưng to. Mỗi một bệnh này là chủ yếu do tăng áp suất và tụ máu và chất lỏng dư thừa trong mạch máu bụng.

Phù ngoại vi, thường thấy rằng khi nốt lõm phù của chân và bàn chân, cũng xảy ra trong xơ gan. Phù là hậu quả của giảm albumin huyết tươngvà thận giữ nước và muối.

Nguyên nhân của cổ trướng ngoài gan bao gồm

Suy tim : cơ tim không bơm đủ dịch vào trong mạch máu. Suy tim có thể gây ra nhiều vấn đề, nhưng đáng chú ý nhất, dịch trở lại phổi và những cơ quan khác làm suy chúng. Dịch này có thể gây rò rỉ và khoang màng bụng và gây ra cổ chướng.
Hôi chứng hư thận : làm protein rò rỉ vào nước tiểu , giảm áp suất thẩm thấy keo và có thể dẫn đến cổ trướng
Rối loạn của tuỵ : có thể dẫn đến cổ chướng bằng nhiều cách. Viêm tuy cấp tính có thể gây ra tích tụ dịch như một phần củ aphản ứng viêm . Viêm tuỵ mạn có thẻ dẫn đến suy dinh dưỡng, dẫn đến giảm protein toàn cơ thể, mất áp suất thẩm thấu keo , cổ trướng. Ung thư tuyến tụ có thể gây ra mất chất lỏng trực tiếp
Kích thích trực tiếp phúc mạc có thể làm rò rỉ chất lỏng như một phần của quá trình viêm. Kích thích này có thể là do ác tính ( ung thư) haowjc nhiễm trùng
Bệnh của buồng trứng gắn liền với cổ trướng. Bệnh ung thư buồng trứng không có dấu hiệu ban đầu, nhiều phụ nữ sẽ có chuẩn đoán lầm vì chúng phát triển cổ trướng. Hội chứng Meigs là một u lành của buồng trứng gọi là u xơ. Nó hiện diện với cổ chướng và tràn dịch màn phổi . Bề mặt căng cứng của khối u buồng trứng có thể gây ra kích thích phúc mạc đáng kể, làm cho nó rò rỉ cháat lỏng
Cổ trướng được tìm thấy một cách khác thường trong suy giáp. Thường suy giáp không được điều trị trong một thời gian dài , và cổ trướng mất đi khi tuyến giáp trở lại bình thường
Xem tiếp…

THUỐC NAM ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ BỆNH XƠ GAN CỔ CHƯỚNG

13:19 |
Y học cổ truyền cho rằng bệnh xơ gan có liên quan đến 3 thể bệnh gồm can khí ứ trệ, can huyết ứ tắc và thủy thấp ứ đọng. Trên lâm sàng bệnh có thể chia thành 3 thời kỳ (đầu, giữa, cuối) mà có những món ăn - bài thuốc tương ứng.
                                                               

Thời kỳ đầu: Triệu chứng lâm sàng thường không rõ hoặc rất nhẹ, chủ yếu là rối loạn tiêu hóa như ăn không ngon, tiêu lỏng, người bệnh thấy mệt mỏi, đau nhẹ, hơi tức vùng bụng trên bên phải hoặc đầy bụng, nôn hoặc buồn nôn. Khám gan có thể thấy hơi to, có bệnh nhân bị lách to. Chức năng gan bình thường hoặc hơi suy giảm, khám kỹ có thể phát hiện điểm ứ huyết, mạch sao.

 Bài thuốc nam điều trị xơ gan cổ chướng :

+ Thương truật: 12g + Phục linh: 12g

+ Mộc hương: 6g + Kim tiền thảo: 16g

+ Đùm đũm: 16g + Hậu phác: 12g

+ Trạch tả: 12g + Đương quy: 12g

+ Nhụ quế: 4g + Hoàng bá: 8g

 Điều trị xơ gan cổ chướng bằng thực phẩm :

Nếu người bệnh nhân thận hư thì dùng Bạch mao can, Hoàng liên, quả dứa dại (tuỳ theo từng trường hợp mà gia giảm).

Cỏch dùng: Sắc ngày uống 1 thang (uống thay nước hàng ngày).Chè đảng sâm - sa nhân - đại táo: Đảng sâm 20g, sa nhân 10g (bọc trong túi vải), đại táo 5 quả, gạo 60g, đường trắng với lượng vừa. Nấu chè.

Chè phật thủ - phục linh: Phật thủ 15g, phục linh 15g, gạo 100g, đường phèn với lượng vừa. Sắc lấy nước thuốc bỏ bã, cùng gạo nấu chè, khi chín nêm đường phèn. Mỗi ngày 1 lần.

Bánh đậu tằm: Đậu tằm 250g, đường đen 150g. Đậu tằm sau khi dùng nước ngâm nở, bỏ vỏ. Cho vào nồi áp suất, nấu cho đến chín nhừ, nêm vào đường đen, khuấy thành hồ đặc, chờ nguội, cho vào thau, ép phẳng cất thành từng bánh, mỗi lần 30g, mỗi ngày 2 lần.

Thời kỳ toàn phát: Chức năng gan suy giảm rõ. Lâm sàng biểu hiện triệu chứng rối loạn tiêu hóa, mạn sườn bên phải đau rõ, sụt cân, da sạm, có bệnh nhân vàng da, vàng mắt, điểm ứ huyết, mạch sao ở mặt, ngực, tay, vai, cổ... hoặc có hiện tượng giãn mao mạch, bàn tay, đầu ngón tay đỏ mập lên, chân răng, mũi, trĩ xuất huyết, tiêu có máu, phụ nữ kinh nguyệt nhiều kéo dài, hoặc có triệu chứng hoa mắt, chóng mặt, tim hồi hộp, ít ngủ, chân tay tê dại, ngứa, tiểu ít hoặc tiểu khó, cổ chân phù, bụng có nước nhẹ. Khám gan thấy có thể eo nhỏ hoặc to dưới bờ sườn, bờ sắc cứng.

Canh dưa leo nấu giấm: Dưa leo 250g, giấm với lượng vừa. Dưa leo cắt lát, giấm và nước với hai phần bằng nhau, sau khi nấu nhừ dùng canh ăn dưa, mỗi ngày 1 lần.

Chè đào nhân (nhân hạt đào): Nhân hạt đào 15g lột vỏ giã nát, gạo 60g. Nấu chè, nêm đường đen.

Canh tô mộc nấu trứng vịt: Tô mộc 15g, trứng vịt 2 quả. Luộc trứng chín, lột vỏ, rồi cùng tô mộc nấu trong 30 phút, dùng canh ăn trứng.

Tam bì ẩm: Vỏ bí đao 50g, vỏ dưa chuột 50g, vỏ dưa hấu 50g. Ba thứ cùng cho vào nồi thêm nước nấu, dùng uống thay trà. Thích hợp dùng cho người bệnh báng bụng nhẹ, bí tiểu và có thể dùng chung với các món ăn khác.

Canh giò heo nấu xích tiểu đậu: Giò heo (trước) 250g, xích tiểu đậu (đậu đỏ nhỏ hột) 200g. Dùng lửa lớn nấu sôi, rồi dùng lửa nhỏ, hầm cho đến khi thịt mềm. Mỗi ngày 1 lần. Món canh có đặc điểm tiêu phù thũng, thanh thấp nhiệt mà không gây thương tổn lá lách.

Thời kỳ cuối: Đây là giai đoạn nghiêm trọng của chức năng gan, thời kỳ mất bù, bụng to như trống (cổ trướng), da bụng báng, tuần hoàn bàng hệ, rốn lồi. Tiểu ít hay vô niệu, khó thở, người gầy, sắc mặt sạm tối, da mặt vàng đậm, bệnh nặng có xuất huyết tiêu hóa, tinh thần lờ đờ, buồn ngủ hoặc hưng phấn, hốt hoảng, hôn mê gan...

Canh râu bắp nấu rùa: Râu bắp 60g, rùa 1 con bỏ nội tạng, rửa sạch. Thêm nước nấu chín mềm, nêm gia vị, dùng canh ăn thịt.

Bột thuốc từ rùa - ba ba - tê tê: Mai ba ba (miết giáp) 300g, mai rùa (quy bản) 200g, vẩy tê tê (xuyên sơn giáp) 100g, tất cả cùng tán bột mịn sử dụng sau. Mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 5g dùng uống với canh thêm đường sau bữa ăn. Nếu có táo bón, có thể uống với mật ong.

Canh cá trích - xích tiểu đậu - thương lục: Cá trích 250g, xích tiểu đậu (đậu đỏ nhỏ hột) 150g, thương lục 3g. Nấu canh. Mỗi ngày 1 lần.

Cháo cá chép - tỏi - bo bo: Cá chép 250g, bo bo (ý dĩ) 30g, tỏi 15g, gạo với lượng vừa. Nấu cháo.

Cháo ích mẫu tươi: Nước vắt lá ích mẫu tươi 10ml, nước vắt củ sanh địa tươi 40ml, gừng tươi 20g, mật ong 10ml, gạo 100g. Gạo nấu cháo, khi chín thêm vào nước thuốc nêu trên cùng với mật ong, nấu lại giây lát, mỗi ngày 1 lần.

Cháo vịt: Thịt vịt đực 250g, gạo 100g ; thịt vịt cắt lát, gạo vo sạch, cùng cho vào nồi thêm nước nấu cháo, nêm gia vị, mỗi ngày 1 lần.
Xem tiếp…

THỰC PHẨM GIÚP ĐIỀU TRỊ BỆNH NÓNG GAN HIỆU QUẢ

11:40 |
Theo lý giải của các Chuyên gia, sau khi hấp thu phần lớn rượu được chuyển hóa ở gan. Do đó, nếu uống rượu với số lượng quá nhiều, gan sẽ không kịp sản xuất đủ số lượng men để chuyển hóa giải độc rượu. Hậu quả là rượu sẽ bị ứ lại trong cơ thể và gây độc cho nhiều cơ quan nội tạng, trong đó gan là cơ quan bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Điển hình cho các căn bệnh về gan là xơ gan mãn tính, gan nhiễm mỡ, viêm gan, ung thư gan.

Điều đáng nói là diễn tiến của bệnh gan thường kéo dài. Giai đoạn đầu không có triệu chứng rõ ràng nên nhiều người không để ý, đến khi có dấu hiệu như vàng da, vàng mắt, bụng to, chân phù, chảy máu… thì bệnh đã ở giai đoạn trễ, làm hạn chế hiệu quả điều trị. Do vậy, theo lời khuyên của các bác sĩ, những người thường hay uống rượu bia cần phải theo dõi sức khỏe định kỳ. Tốt nhất, để phòng ngừa các tổn thương ở gan do rượu bạn nên hạn chế uống rượu bia, đồng thời kết hợp ứng dụng các phương thức hiệu quả từ tự nhiên.

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Giao, viện Công nghệ sinh học, viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nước ta nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có rất nhiều cây cối, hoa quả, trong đó có những hệ enzyme rất tốt cho cơ thể. Ngoài các vitamin, các chất xơ thì nó còn có cá hệ enzyme giúp bảo vệ cơ thể.
Cũng theo PGS Ngọc Giao, từ xưa đến nay, nhiều loại cây cỏ có tác dụng giải độc cho gan được sử dụng nhưng chủ yếu chế biến bằng cách nấu cao hoặc sắc nước để uống. Ngày nay, các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu, tổng hợp các tinh chất từ hoa trái, cỏ cây với mục đích ứng dụng hiệu quả vào thực tế, như hỗ trợ điều trị gan nhiễm mỡ, viêm gan, đồng thời tăng cường kháng thể.

Có thể kể đến trong số này có tổng hợp Papain từ đu đủ, Alicin từ bột tỏi, Betacarotene từ gấc, quả trứng gà, Enzyme Peroxidase từ mướp đắng, củ cải cùng Pluriamin được thủy phân từ nhộng tằm tạo nên hợp chất hữu ích Naturens, cung cấp acid amin cần thiết cho cơ thế, ngăn ngừa tiền ung thư gan. Thực tế, mỗi loại nguyên liệu từ tự nhiên đó đều có tác dụng hữu hiệu trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe. Cụ thể :


- Ăn đu đủ thường xuyên có tác dụng bổ máu, chữa chứng mất ngủ, viêm dạ dày mãn tính, giúp hồi phục gan, tăng sức đề kháng cho cơ thể.

- Tỏi giúp phục hồi allicin, một hợp chất tự nhiên trong cơ thể, có tác dụng chống ung thư cùng các bệnh về tim mạch, giảm cholesterol và giảm huyết áp.

- Gấc dùng để nấu xôi vừa ngon, đẹp lại nhuận tràng, tốt cho tiêu hóa. Đặc biệt, gấc chứa nhiều betacaronten, là tiền sinh tố vitamin A, có lợi cho mắt. Trong lớp màng đỏ bao quanh hạt gấc có chứa vitamin E, hữu hiệu để chống sạm da, khô da, rụng tóc.

- Quả trứng gà hay còn gọi là lêkima cũng là một loại trái cây có chứa nhiều carotene, vitamin B3 và các nhóm vitamin B khác, có khả năng chống lão hóa. Đặc biệt tinh dầu chiết xuất từ hạt lêkima còn có khả năng làm lành vết thương.

- Nước cốt mướp đắng tươi, có tác dụng hạ đường huyết, lý tưởng cho người bệnh đái tháo đường. Nước nấu mướp đắng có công hiệu thanh nhiệt, thích hợp cho người bị chứng nóng gan.
- Cà gai leo dùng chữa ngộ độc rượu rất tốt, có tác dụng bảo vệ tế bào gan. Nếu bị say, uống nước sắc của rễ hoặc thân lá sẽ nhanh tỉnh rượu

- Cây chó đẻ răng cưa, theo kinh nghiệm dân gian dùng làm thuốc, giã nát với muối chữa mụn nhọt, đặc biệt tốt cho gan bằng cách lấy 20-40g cây tươi, sao khô sắc đặc dùng để uống hàng ngày.
- Cây giảo cổ lam tốt cho tế bào gan, tăng cường chức năng giải độc của gan, làm hạ mỡ máu, ngăn ngừa xơ vữa mạch máu, và bình ổn huyết áp, phòng ngừa các bệnh về tim mạch.
Bên trên là những loại thuoc nam chua benh gan rất tốt cho tất cả mọi người
Xem tiếp…

CHỮA TRỊ VIÊM GAN B HIỆU QUẢ BẰNG ĐÔNG Y

11:29 |
Ở Việt Nam, viêm gan cấp, bán cấp chủ yếu là do virus, tuy có sự khác nhau về tác nhân gây bệnh, dịch tễ học, bệnh học và tiến triển, nhưng trên lâm sàng thường có các triệu chứng và hội chứng tương đối giống nhau.
                  
                                     

Về tác nhân gây bệnh có thể do các loại virut A, B, C, D và F gây nên. Các bệnh viêm gan này đều được gọi chung là viêm gan virut.

Về đường lây viêm gan virut A, F lây chủ yếu theo đường tiêu hóa; virut B, C, D lây chủ yếu theo đường máu, do tiêm chích, đôi khi còn có thể lây theo đường nước bọt hay đường sinh dục hoặc lây truyền từ mẹ sang con qua rau thai. Tuy có sự khác nhau về đường lây và phương thức lây truyền, nhưng tất cả các bệnh viêm gan virut đều có đặc điểm chung là một bệnh truyền nhiễm, tức là có khả năng lây từ người bệnh sang người lành hoặc từ một người lan sang cả một cộng đồng người.

Về triệu chứng lâm sàng tuy có sự khác nhau do các tác nhân khác nhau gây nên, nhưng nhìn chung bệnh viêm gan virut điển hình đều có 4 giai đoạn:

Thời kỳ nung bệnh: Bệnh nhân không hề cảm thấy có triệu chứng gì khác thường.

Thời kỳ khởi phát (tiền vàng da) kéo dài từ 4 - 10 ngày, có các dấu hiệu chính như sốt nhẹ, mệt mỏi nhiều mặc dù không sốt cao, có dấu hiệu giả cúm và dấu hiệu rối loạn tiêu hóa. Lúc này xét nghiệm sẽ thấy men gan tăng cao hoặc rất cao, thường gấp trên 10 lần lúc bình thường, có khi tới trên 100 lần.

Thời kỳ toàn phát (vàng da) triệu chứng vàng da rõ ràng nhất, da vàng, mắt vàng, nước tiểu vàng sẫm, có thể kèm sốt cao hoặc sốt vừa. Ngoài ra bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi tăng hơn trước, rối loạn tiêu hóa, chán ăn đặc biệt sợ mỡ. Xét nghiệm trong giai đoạn này không phải để chẩn đoán mà chủ yếu để tiên lượng bệnh, do đó cần thăm dò 4 hội chứng của gan: Hội chứng hủy hoại tế bào gan, hội chứng ứ mật, hội chứng viêm và hội chứng suy tế bào gan.

Thời kỳ lui bệnh được biểu hiện bằng đi tiểu nhiều, tới 2 - 3 lít mỗi ngày, nước tiểu màu nhạt dần và vàng da cũng đỡ dần, bệnh nhân ăn uống ngon miệng, xét nghiệm sinh hóa cho thấy chức năng gan phục hồi dần. Tuy nhiên, ở một số người, vẫn mệt mỏi kéo dài, ăn uống khó tiêu, cảm giác ấm ách vùng thượng vị hoặc đau tức, nằng nặng vùng hạ sườn phải.

Đối với viêm gan B, xuất hiện kháng thể HBs Ag. Nếu xét nghiệm thấy HBs Ag kéo dài quá 4 tháng, phải nghĩ đến viêm gan mạn tính sau viêm gan virut B.

Về ăn uống, trong thời kỳ bị bệnh không nên ăn mỡ, ăn nhiều đường, ăn nhiều hoa quả tươi. Sau bị bệnh, ăn trở lại bình thường dần dần, nhưng rượu bia thì phải kiêng tuyệt đối ít nhất 6 tháng sau khi khỏi bệnh.

Về điều trị, cho đến nay Tây y vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu viêm gan virut. Song cả Tây y và Đông y đều cho rằng, nghỉ ngơi là rất cần thiết đối với bệnh viêm gan virut: Cần nằm nghỉ tuyệt đối trong thời gian vàng da và nghỉ dưỡng sức ít nhất 15 ngày sau khi hết vàng da, sau đó lao động vừa sức tăng dần để trở lại lao động bình thường.

Đối với bệnh viêm gan virut nói riêng, viêm gan vàng da nói chung, Đông y có nhiều bài thuốc chữa rất có hiệu quả. Đây không phải là những bài thuốc đặc trị theo từng loại bệnh mà chính là tăng cường chức năng gan, lập lại cân bằng, giúp chức năng gan trở lại trạng thái bình thường.

Đông y không phân thành bệnh viêm gan mà gọi chung là hoàng đản (chứng vàng da). Theo y văn, hoàng đản nguyên nhân chủ yếu do thấp nhiệt uất kết trong tỳ vị, ảnh hưởng đến can, sinh ra mắt vàng, mặt vàng rồi đến toàn thân đều vàng, nước tiểu vàng sẫm. Nếu độc khí của thấp nhiệt lưu lại không tiêu được sẽ làm cho càng ngày càng ăn kém, gan càng ngày càng to. Về phân loại, Đông y phân ra hai chứng hoàng đản: Dương hoàng và âm hoàng.

Dương hoàng: biểu hiện mặt, mắt vàng tươi sáng như màu quả quýt, da vàng nhuận, bệnh nhân cảm giác lợm giọng, nôn ọe, vùng thượng vị đau tức, nước tiểu đỏ và sẻn, có sốt, thân thể mệt mỏi, tinh thần uể oải, ăn kém, rêu lưỡi vàng nhờn, hoặc trắng mỏng, chất lưỡi đỏ.

Phép chữa là thanh nhiệt, lợi thấp.

Bài thuốc: Nhân trần 30g, vọng cách 20g, chi tử 10g, vỏ đại (sao vàng) 10g, ý dĩ 30g, thần khúc 10g, actisô 20g, cuống rơm nếp 10g, nghệ vàng 20g, mã đề 12g, mạch nha 16g, cam thảo nam 8g. Tất cả cho vào ấm đất với 500ml nước, sắc còn 150ml, chắt ra, cho nước sắc tiếp, lấy thêm 100ml, trộn chung cả hai lần, chia đều uống trong ngày, uống trước các bữa ăn. Uống liền 7 - 10 ngày.

Âm hoàng: Có triệu chứng mặt, mắt và da vàng hãm tối, bụng đầy, rối loạn tiêu hóa, vùng thượng vị, trung vị, hạ vị đều đau tức, không sốt, thân thể mệt mỏi, rêu lưỡi trắng mỏng, hoặc hơi vàng trơn, chất lưỡi nhợt nhạt.

Phép chữa là ôn hóa hàn thấp.

Bài thuốc: Nhân trần 30g, vọng cách 20g, gừng khô 8g, quế thông 4g, ý dĩ 30g, thần khúc 10g, actisô 20g, cuống rơm nếp 10g (sao), nghệ vàng 20g, củ sả 8g, mạch nha 16g, cam thảo nam 8g (sao). Sắc uống như bài trên.

Về phòng bệnh, hiện nay đã có vaccin của một số viêm gan virut nên tốt nhất là tiêm phòng. Phòng bệnh không đặc hiệu cần vệ sinh sạch sẽ, tạo thành thói quen rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và hết sức thận trọng khi truyền máu, truyền dịch, châm cứu, tiêm chích hoặc làm các thủ thuật khác như nhổ răng, phẫu thuật...

Đề phòng từ viêm gan cấp chuyển sang mãn tính bằng cách nghỉ ngơi, phù hợp khi bị bệnh, uống các bài thuốc Đông y nêu trên, lao động vừa sức, ăn uống hợp lý và đặc biệt phải kiêng rượu, bia ít nhất là nửa năm sau khi bệnh đã khỏi.

http://www.bacsibenhgan.com/2013/10/trieu-chung-va-thuoc-chua-tri-benh-viem-gan-b-hieu-qua.html
Xem tiếp…

THỰC PHẨM CHO NGƯỜI BỆNH MỀ ĐAY

10:32 |
Mề đay (MĐ) thường được gọi là “phong chẩn”, là một loại bệnh phản ứng thũng nước có tính chất hạn chế ở từng bộ phận xuất hiện ngoài da, do những mạch máu ở niêm mạc da bị giãn ra và tăng tính thẩm thấu… Vì vậy, việc kiêng kỵ trong ăn uống có tác dụng quan trọng khi phát bệnh và đề phòng diễn biến xấu sau đó.                               
Những thực phẩm cần kiêng kỵ

Trước hết người bệnh phải biết những thực phẩm nào gây nhạy cảm đối với bệnh này. Các loại protein động vật, dễ nhạy cảm nhất là cá, tôm, cua, sữa bò, bơ và những đồ chế biến bằng bơ, trứng các loại, rồi đến các thức ăn có tính chất thực vật như măng, rau chân vịt, nấm hương, cà, đậu tằm, dưa chuột, tỏi, hành củ, cam quýt, mận, thảo quả và những quả rắn (như hạt dẻ, ngân hạnh, hồ đào), tương lạc và các loại gia vị thơm… Ngoài ra, một số thực phẩm có tính nhạy cảm đối với một số người như rượu, sôcôla, các aldehyt chưa no (là một chất được sinh ra khi tiêu hóa chất béo và khi ăn các thức ăn rán bằng dầu mỡ) và các phụ gia thực phẩm như thuốc tạo màu, các gia vị, thuốc bảo quản thức ăn, các vật chất tự nhiên, tinh dầu bạc hà…

Những tác hại nếu không kiêng kỵ

Những thức ăn uống nói trên phần nhiều sinh phong, động huyết, hóa nhiệt, nhất là hải sản, thịt thủ lợn, đầu gà,nấm hương, nấm ăn, rau hương xuân, ớt, thức ăn dầu mỡ ăn vào sẽ sinh đờm, động hỏa, hao tán khí huyết; nếu xét thấy bệnh thuộc chứng dương, chứng nhiệt thì càng cần kiêng kỵ nghiêm ngặt. Tuy vậy, không phải người bệnh nào cũng đều nhạy cảm đối với các đồ ăn nói trên, nhưng nếu phát bệnh nên kiêng và kiểm tra loại nào dễ làm cho bệnh phát, ví dụ có một số người uống rượu vào là phát bệnh mề đay, do vậy phải kiêng rượu nghiêm ngặt.

Khi kiêng kỵ trong ăn uống, người có bệnh mề đay còn phải phân biệt loại nào cần kiêng kỵ đối với bệnh cấp tính và kiêng kỵ đối với bệnh mạn tính.

Vì vậy khi chưa xác định rõ nguyên nhân gây ra bệnh cấp tính, cần phải tuyệt đối kiêng kỵ một số loại thức ăn, nhất là các loại cá, cá trèm, cá mực, lươn; các loại có vỏ (tôm, cua, sò biển các loại, thịt ngan, dê, bò, thủ lợn) cùng nấm ăn, nấm hương, tỏi, hành tây, hẹ, ớt, dưa chuột, rau châm kim, thảo quả, rau trộn giấm, ngân hạnh, hạt dẻ, tương lạc, rượu, các thứ gia vị (giấm, hạt tiêu, hoa tiêu, hồi hương).

Đối với trường hợp mề đay mạn tính rất khó xác định những thức ăn nào dẫn tới dị ứng, bởi vì có một số thức ăn như sữa bò, đại mạch, kiều mạch, ngô, thịt bò, khoai tây, nhộng tằm, thường phản ứng chậm sau khi ăn 24 giờ mới phát ra.

Cho nên phương pháp cuối cùng để quyết định kiêng kỵ trong ăn uống là loại trừ dần, nghĩa là đang ăn các thứ thanh đạm được phép ăn, thì cho xen vào một loại nhạy cảm nào đó, rồi thử lần lượt những thức ăn nhạy cảm. Theo dõi phản ứng để xác định thức ăn nào gây dị ứng, sau đó cứ theo đó mà kiêng kỵ. Có một số thức ăn mà y học Trung Quốc cho là sinh phong động huyết như các thức gây phát, hải sản tanh, các chất cay, thì dù cấp tính hay mạn tính đều cần chú ý kiêng kỵ.

Ngoài ra, đối với người bị bệnh mề đay dạng ruột, ngoài việc kiêng kỵ những đồ ăn đã nói trên, trong thời gian phát bệnh còn phải kiêng kỵ nghiêm ngặt các loại đồ ăn thô, các đồ ăn không tiêu hóa như các loại rau có hàm lượng chất xơ cao (như hẹ, rau thơm, măng, dưa muối) nếu không dễ gây tổn thương niêm mạc ruột, dạ dày, đồng thời phát thêm những bệnh nghiêm trọng. Mặt khác còn cấm uống rượu để tránh phù nước niêm mạc và sung huyết nặng thêm.

Tóm lại, người bị bệnh mề đay nếu kiêng kỵ sẽ có tác dụng chủ yếu trong việc đề phòng phát bệnh, làm khỏi bệnh và cũng là vấn đề then chốt cho người đang điều trị.
Xem tiếp…

NHỮNG BÀI THUỐC CHỮA TRỊ BỆNH MỀ ĐAY HIỆU QUẢ BẰNG THẢO DƯỢC

09:58 |
Nỗi mề đay ( mày đay) là một bệnh ngoài da, do nhiều nguyên nhân khác nhau như: dị ứng thực phẩm, thuốc; khí hậu thay đổi; tiếp xúc hóa chất, khói bụi, phấn hoa; nhiễm ký sinh trùng… ở bên trong cũng như bên ngoài cơ thể. Người bị mề đay rất khó chịu, mẫn đỏ nỗi khắp cơ thể, ngứa ngáy, có người còn khó thở, bị sốt vì mề đay nhiều. Theo đông y , mề đay do thấp nhiệt uẩn kết bên trong gặp gió lạnh mà phát bệnh.Sau đây là một số bài thuốc chữa mề đay :

Bài 1: bèo cái 10g, bạc hà 5g, kinh giới 10, ké đầu ngựa 30g. Bèo cái bỏ rễ, rửa sạch, ké đầu ngựa sao cháy hết gai. Tất cả cho vào ấm với 300ml nước đun sôi kỹ, chắt lấy nước, bỏ bã, chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống liền 7-10 ngày.

Bài 2: bồ công anh 20g, sài đất 30g, kim ngân hoa 20g, ké đầu ngựa 20g, bèo cái 30g. Bèo bỏ rễ, ké sao vàng cho cháy hết gai. Tất cả cho vào ấm, đổ 500ml nước sắc còn 100ml chia uống 2-3 lần trong ngày, dùng liên tục 7-10 ngày.

Bài 3: hoàng kỳ 20g, hà thủ ô 20g, bạch tiễn bì 20g, lá khổ sâm 15g, hạnh nhân, ma hoàng mỗi vị 10g. Cách sắc và uống như bài 2.

Bài 4: uy linh tiên, bạch cương tàm, kinh giới tuệ, thuyền thoái mỗi vị 10g. Tất cả cho vào ấm đổ xâm xấp nước đun sôi nhỏ lửa 10-15 phút chắt ra, chế tiếp nước như ban đầu. Khi thuốc được đem trộn chung, chia uống 2-3 lần trong ngày. Ngày uống 1 thang dùng liên tục 10-15 ngày.

Bài 5: kim ngân hoa 12g; khổ sâm 12g; phòng phong, tạo giác thích, ngưu bàng tử, xích thược mỗi vị 10g; bạch tật lê, thuyền thoái, kinh giới mỗi vị 6g; cam thảo 3g. Cho 200ml nước sắc còn 100ml chiết lấy dịch sắc, đổ tiếp 300ml nước sắc còn 100ml; đem hòa chung chia uống 2-3 lần trong ngày. Ngày uống 1 thang, uống liên tục 10-15 ngày. Nếu gặp gió lạnh bệnh tăng thì gia khương hoạt 10g; phụ tử chế, quế chi mỗi vị 5g.

Bài 6: cây ké đầu ngựa 15g, cam thảo đất 12g, kim ngân 20g, sài đất 30g, sinh địa 20g, thổ phục linh 15g, bèo cái 30g. Bèo cái bỏ rễ, ké sao vàng cho cháy hết gai. Tất cả cho vào ấm đổ 300-500ml nước đun kỹ chia uống ngày 2-3 lần. Dùng 7-10 ngày.

Bài 7: đậu đỏ 50g, liên kiều, thuyền thoái mỗi vị 20g, lá khổ sâm 15g, vỏ trắng thân cây dâu 15g, ma hoàng, hạnh nhân mỗi vị 10g. Cách sắc và uống như bài 2.

Bài 8: địa phu tử 30g, bạch tiễn bì 15g, thuyền thoái 15g, hồng hoa 10g, khương hoạt 15g, gai bồ kết 10g, kinh giới, phòng phong, chỉ thực, hậu phác mỗi vị 12g. Cách sắc và uống như bài 7.

Bài 9: kim ngân hoa 20g, bồ công anh 30g, liên kiều 15g, mẫu đơn bì, xích thược, đương quy mỗi vị 12g, ma hoàng bỏ mắt 6g, cam thảo 3g. Cách sắc và uống như bài 7.

Bài 10: phòng phong 20g, thạch cao sống 30g, lá khổ sâm 25g, bồ công anh 15g, bèo cái 15g, hồng hoa, khương hoạt, bạch cương tàm, chi tử mỗi vị 12g, cam thảo 3g. Cách sắc và uống như bài 2.

Bài 11: bách bộ 50g giã nhuyễn, ngâm cồn 60º trong 24 giờ là dùng được, ngày bôi 3-6 lần. Bôi liên tục tới khi khỏi.

Chú ý: Khi uống thuốc điều trị chứng mề đay, cần kiêng các thức ăn gây dị ứng như: nhộng tằm, tôm, cua, đồ hải sản. Không ăn ngọt, quá mặn, đồ lạnh và hạn chế tối đa đồ tanh. Kiêng tiếp xúc bùn đất gió lạnh.
Xem tiếp…

CÁCH PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH MỀ ĐAY HIỆU QUẢ

09:37 |
Điều trị mề đay

Để điều trị mề đay, trước tiên cách tốt nhất là loại bỏ yếu tố gây bệnh nếu biết.

Tránh một số thức ăn, một số thuốc có thể gây dị ứng. Tránh các chất kích thích như gia vị, rượu, trà, cà phê…

Trong cơn cấp, người bệnh có thể ăn nhẹ, giảm muối. Trường hợp gây ngứa, khó chịu nhiều, có thể dùng giấm thanh pha trong nước ấm (một phần giấm hai phần nước), Mentol 1%, dung dịch Calamine để thoa hay tắm. Tránh dùng thuốc mỡ kháng histamin (phenergan) thoa vì dễ gây viêm da dị ứng. Mỡ corticoides ít hiệu quả, có thể gây một số tác dụng phụ (nhất là khi thoa trên diện tích quá lớn).

Đối với mày đay mãn tính do thường có liên quan đến các bệnh lý nội khoa nên bệnh nhân cần đến bác sĩ chuyên khoa khám bệnh, thực hiện thêm các xét nghiệm cần thiết để tìm đúng nguyên nhân và có cách điều trị thích hợp.

Phòng bệnh mề đay
                                                       

Những người dễ bị nổi mề đay thường là có cơ địa nhạy cảm, do vậy để phòng bệnh cần lưu ý những điểm sau:
Đối với nổi mề đay do lạnh, luôn chú ý mặc ấm, hạn chế tối đa tiếp xúc với môi trường lạnh.
Nếu do ăn uống nổi mề đay thì không nên ăn những thức ăn đó (như thịt gà, cá chép, tôm, cua…).
Phụ nữ khi sử dụng mỹ phẩm phải thận trọng, lụa chọn những loại mỹ phẩn thích hợp với loại da của mình.
Khi tiếp xúc với môi trường có nhiều chất độc hại phải đeo khẩu trang và mặc quần áo bảo hộ lao động.
Cần giữ gìn vệ sinh cơ thể sạch sẽ, hạn chế sự xâm nhập của các loại ký sinh trùng như bọ chét, chấy rận.
Đặc biệt khi sử dụng các loại thuốc đông – tây y mà không được hướng dẫn của bác sỹ, không chỉ gây ra chứng mề đay mà còn có thể bị ngộ độc thuốc.
Chế độ ăn kiêng cho người bị dị ứng mề đay

Y học cổ truyền gọi bệnh mề day là phong chẩn khối .Nguyên nhân do phong hàn, phong nhệt hoăc các nhân tố khác như thức ăn, thuốc, ký sinh trùng làm xuất hiện ở da những nốt ban, ngứa, đỏ da hoặc phù tạị chỗ.

Do đó chế độ ăn kiêng cho bệnh mề đay là yếu tố được nhiều người quan tâm.

Ngoài việc kiêng gió lạnh, kiêng nước, người bị bệnh dị ứng, mề đay, sẩn ngứa phải tuân thủ theo chế độ ăn như sau:
Trong giai đoạn cấp tính, cần giảm ăn đường và muối vì đường trong máu tăng cao sẽ gây ra hiện tượng quá mẫn (dị ứng). Còn lượng muối nhiều sẽ gây kích ứng thần kinh ngoại biên.
Kiêng những thức ăn gây kích thích như rượu, trà, cà phê, thuốc lá, tiêu, ớt.
Trường hợp đang phù nề, rịn nước thì giảm thức ăn có nhiều nước như canh, súp; uống ít nước.
Kiêng những thức ăn có nhiều đạm như tôm, cua, bò, gà, đồ hộp, lạp xưởng, chocolate, trứng, sữa…
Nên ăn chế độ có nhiều vitamin A, B, C, ăn các thức dễ tiêu, có tác dụng chống táo bón như cà chua, cam, chanh, khoai lang, mướp đắng…
Đối với trẻ em: Cần ăn chế độ giảm đường, sữa bò đặc, lòng trắng trứng..
Riêng với người bị bệnh mề đay, sau khi điều trị khỏi, nếu người bệnh vẫn chưa rõ dị ứng với loại thức ăn nào, cần ăn thử từng món để xem có dị ứng hay không. Ví dụ, một ngày ăn toàn thịt gà (không ăn món nào khác), nếu bị dị ứng thì xác định nguyên nhân do thịt gà gây nên.
Xem tiếp…

NGUYÊN NHÂN VÀ TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH MỀ ĐAY BẠN NÊN BIẾT

09:35 |
Mề đay là phản ứng viêm da có cơ chế phức tạp, trong đó có sự can thiệp của chất trung gian hóa học histamin. Ngoài da nổi lên những mảng có nhiều hình dạng khác nhau như bọ lẹt đốt, rất ngứa nổi gồ lên trên mặt da lúc mất chỗ này, lúc mọc chỗ khác làm bạn không lúc nào yên. Chúng có thể biến mất sau vài giờ, nhưng có thể tồn tại gan lỳ hơn 3 tháng.Thống kê cho thấy, cứ 100 người thì có từ 15 đến 20 người bị nổi mề đay và khả năng tái phát bệnh này nhiều lần trong đời. Phụ nữ dễ nổi mề đay hơn nam giới và ở độ tuổi từ 20 đến 40.

Mề đay do rất nhiều nguyên nhân gây ra, một số yếu tố thường dẫn đến bệnh có thể do dùng thuốc, các chất kích thích như rượu bia, thức ăn, nhiễm khuẩn, thời tiết, cũng như sự căng thẳng về tinh thần. Thông thường người mắc bệnh sẽ thấy ở trên da những nốt to hoặc nhỏ không đều nhau, ở bất cứ nơi nào trên cơ thể.

Ngoài những dấu hiệu nhìn thấy được trên da, người bệnh còn cảm thấy rất ngứa, cũng có ít trường hợp không có ngứa, một số khác thay vì ngứa lại có cảm giác như bị kim châm hoặc rát bỏng. Trường hợp nặng có thể bị nổi mề đay đột ngột ở da, đồng thời xuất hiện các triệu chứng của hệ hô hấp như thở gấp, khó thở, giãn mạch ngoại biên gây hạ huyết áp, choáng váng, có thể tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. 

Mề đay xuất hiện trên da là do phản ứng miễn dịch của cơ thể, khi tiếp xúc với chất gây dị ứng thì lập tức cơ thể sẽ xảy ra phản ứng miễn dịch qua tế bào trung gian.

Các chuỗi phản ứng này làm phóng thích histamin trong da, từ đó làm cho các mạch máu giãn nở, đồng thời làm gia tăng tính thẩm thấu của thành mạch, lớp bì sưng lên tạo các nốt ở ngoài da. Chính chất histamin này làm người bệnh thấy ngứa ngáy.

Các loại mề đay

Mề đay cấp tính:

Mề đay cấp tính xảy ra đột ngột và biến mất nhanh sau vài giờ hoặc vài ngày, hay gặp ở người trẻ và nguyên nhân thường gặp là do thức ăn hoặc thuốc. Trường hợp nặng, người nổi mề đay cấp tính có thể bị choáng váng, ngất xỉu do áp huyết xuống thấp.

Mề đay mãn tính:

Đó là khi tình trạng nổi mề đay kéo dài trên 8 tuần, không kể nhiều hay ít, có khi ngắt quãng nhiều ngày, có thể gặp các dạng khác nhau.
Mề đay thành vệt dài, thành vòng – mề đay xuất huyết.
Mề đay sần ở trẻ em – mề đay mụn nước, phòng nước.
Mề đay khổng lồ – đó là phù nổi đột ngột làm sưng phù mặt, mi mắt, môi hoặc bộ phận sinh dục, thường sau vài giờ thì lặn, không ngứa chỉ gây cảm giác căng tức khó chịu. Mức độ nguy hiểm của dạng phù này là có thể làm phù đường hô hấp trên, gây hẹp thanh quản và họng dẫn tới khó thở, phải cấp cứu.
Mề đay cấp tiết Cholin: Xuất hiện khi đi ra nắng, vận động thể lực, xúc cảm hay gặp ở người trẻ tuổi. Mề đay nổi đột ngột rầm rộ khắp cơ thể gây cảm giác rất ngứa.
Nguyên nhân gây bệnh mề đay mãn tính khác nhau chứ không phải chỉ do ký sinh trùng, thức ăn hay thời tiết. Nguyên nhân gây bệnh có thể còn do thuốc, kháng nguyên hô hấp (phấn hoa, bụi, men mốc…), mày đay do bệnh nội tiết…

Nguyên nhân gây mề đay:

Thực phẩm, thức uống, gia vị: Thức ăn hay bị “đổ thừa” nhất là đồ biển như: sò, nghêu, cua, ghẹ, cá biển. Các loại sôcôla, sữa, bơ, phó mát. Nhóm thực vật là dưa gang, dưa tây, cà chua, trái dâu, kể cả hành, tỏi. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng thức ăn thông thường nhất, “lành nhất” cũng có thể gây bệnh.

Các chất phụ gia: Cũng là yếu tố quan trọng. Chúng có thể là chất tự nhiên như các loại men, con giấm hoặc chất hóa học dùng để bảo quản và nhuộm màu thực phẩm.

Thuốc men: Có rất nhiều thứ thuốc có thể gây dị ứng và nổi mề đay. Ðáng kể nhất là Penicilline rồi đến Aspirine, Sulfamides; các loại thuốc ngủ, thuốc an thần, thuốc trị đau nhức xương khớp, thuốc ngừa thai và còn nhiều loại khác.

Nhiễm trùng: Các ổ nhiễm trùng, nhiễm nấm tiềm tàng thường gây bệnh mề đay mãn tính như viêm xoang, sâu răng, nhiễm trùng đường tiểu, đường hô hấp trên như viêm mũi – họng.

Các loại bụi nhà, bụi phấn hoa, bụi lông thú và các loại ky sinh trùng cũng thường là nguyên nhân của mề đay mãn tính
Xem tiếp…

ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ BỆNH MEN GAN CAO KHI MANG THAI

09:07 |
Trong khi mang thai, một số men gan thường tăng lên như một phần của những thay đổi sinh lý của thai kỳ, trong khi những người khác thì không. Bất thường tăng men gan xảy ra ở 5 % phụ nữ mang thai. Tăng men gan trong thai kỳ có thể chỉ ra tổn thương gan nghiêm trọng.
                                                     

Một loại men gan, phosphatase kiềm, thường tăng lên đến 2-4 lần mức bình thường của nó từ 35 đến 110 đơn vị quốc tế mỗi lít, hoặc IU / L, trong thời kỳ mang thai. Hai men gan khác, AST và ALT, không nên tăng lên trong khi mang thai. Mức ALT bình thường nằm trong khoảng từ 0 đến 45 IU / L và AST 0-40 IU / L.

Một số biến chứng nghiêm trọng có thể gây ra do tăng men gan như:Tiền sản giật- sự khởi đầu của huyết áp cao và protein trong nước tiểu sau 20 tuần mang thai, xảy ra trong khoảng từ 3- 7% phụ nữ mang thai. Biến chuyển từ tiền sản giật sang sản giật với sự phát triển của cơn động kinh ở 1 trong 200 phụ nữ bị tiền sản giật. Hội chứng HELLP( viết tắt của tán huyết, tăng men gan và giảm tiểu cầu), ảnh hưởng đến ít hơn 1% của tất cả các lần mang thai, theo tổ chức March of Dimes. Hội chứng HELLP xuất hiện như một biến chứng của tiền sản giật. Gan nhiễm mỡ cấp tính của thai kỳ, hoặc AFLP( gan nhiễm mỡ khi mang thai), ảnh hưởng đến khoảng 1 trong 13.000 ca mang thai, theo nghiên cứu của Trường Đại học Y Emory. Virus viêm gan A, B, C cũng có thể gây tăng men gan trong thai kỳ.

Bệnh viêm gan mãn tính hiếm khi gây biến chứng cho mẹ trong khi mang thai, nhưng nếu bé viêm gan B, như xảy ra trong 10- 20 % các trường hợp, trẻ sơ sinh sẽ có nguy cơ bệnh tật và tăng nguy cơ suy gan hoặc ung thư khi trưởng thành, theo Dimes. Viêm gan C lây nhiễm vào thai nhi trong khoảng 4 % các trường hợp. Các rối loạn gan nghiêm trọng xảy ra trong thời kỳ mang thai đều có thể dẫn đến tử vong hoặc tổn thương não ở người mẹ hoặc thai nhi nếu không được điều trị kịp thời. Việc mang thai có thể phải được chấm dứt sớm, dẫn đến sinh non của thai nhi.

Điều trị men gan cao, gan nhiễm mỡ cấp tính, HELLP, tiền sản giật và sản giật là cần thiết. Cho trẻ tiếp xúc với vắc-xin viêm gan B trong vòng 12 giờ sau sinh ngăn ngừa lây truyền cho trẻ sơ sinh trong hơn 90 % các trường hợp. Tại thời điểm này, không có vắc-xin để phòng ngừa lây truyền viêm gan C cho trẻ.

- Các biến chứng dài hạn

Không có thuốc điều trị đặc hiệu chữa bệnh viêm gan B hoặc C, mặc dù điều trị kháng virus có thể giúp xóa virus. Bệnh viêm gan A thường tự giới hạn. HELLP, gan nhiễm mỡ và sản giật thường cải thiện trong vòng vài ngày sau khi sinh mà không có biến chứng lâu dài trừ khi mẹ và bé bị tổn thương não hoặc tổn thương vĩnh viễn khác từ các bệnh tật.
Xem tiếp…

NHỮNG NGUY HIỂM KHI BỊ RỐI LOẠN MEN GAN

08:42 |
Khi men gan rối loạn (tăng hoặc giảm) chứng tỏ có hiện tượng bất thường xảy ra đối với tế bào gan. Sự bất thường này có thể xảy ra do tế bào gan bị tổn thương.

Men gan do tế bào gan sản xuất ra, khi tế bào gan chết đi do quá trình lão hóa thì có một lượng men gan được phóng thích vào máu ở nồng độ dưới 40U/l và chỉ số này gần như cố định ở người bình thường. Trong thực tế hay gặp nhất là men gan tăng với các nguyên nhân khác nhau, nhiều trường hợp là rất bất lợi cho cơ thể.
                           

Ở người có 4 loại men gan (enzyme). Khi xét nghiệm máu, người ta thường chú trọng xác định AST (Aspart transaminase) hay còn gọi là SGOT (Serum glutamic oxaloaxetic transaminase). Loại men này chủ yếu ở bào tương và ty thể của tế bào gan, ngoài ra còn có ở tế bào cơ tim, cơ vân, thận, não, tụy. Loại men thứ 2 là ALT (Alanin transaminase) hay còn gọi là SGPT (Serum glutamic pyruvic transaminase) là men có chủ yếu trong bào tương của tế bào gan, chỉ có một ít trong tế bào cơ vân và cơ tim. Năng lượng tạo ra nhờ xúc tác của men này được dùng cho quá trình co cơ. Loại men gan thứ 3 là Alkaline phosphatase có trong tiểu quản màng tế bào gan và loại men gan thứ 4 là GGT (Gama glutamyl transpeptidase) là loại men có trong thành của tế bào ống mật (ống mật nằm trong gan và ngoài gan). Trong 4 loại men gan thì AST (SGOT) và ALT (SGPT) đóng vai trò chủ yếu phản ánh tình trạng của tế bào gan.

Tại sao men gan tăng hoặc giảm?

Rối loạn men gan với nhiều nguyên nhân khác nhau, hầu hết hay gặp là men gan tăng. Sự gia tăng men gan có nghĩa là ở một chừng mực nào đó tế bào gan đã bị ảnh hưởng. Có thể là tế bào gan ảnh hưởng nhẹ (men gan tăng có tính chất nhất thời), nhưng cũng có thể men gan tăng có tính chất trường diễn hoặc tăng một cách đột biến, chứng tỏ ở trong giai đoạn đó tế bào gan đang bị tổn thương. Trong số các nguyên nhân gây tăng men gan thì viêm gan do virút là đáng sợ hơn cả. Viêm gan do virút có thể do virút viêm gan A, B, C, E, D. Viêm gan cấp do virút hoặc bất kỳ nguyên nhân nào cũng làm cho men gan tăng cao đột biến. Nếu tăng từ 1 - 2 lần là ở mức độ nhẹ, từ trên 2 - 5 lần là tăng ở mức độ trung bình và tăng trên 5 lần là tăng ở mức độ nặng (bình thường AST < 37U/l và ALT < 40U/l và GGT: nam 15 - 50 < U/l và nữ: 7 - 32 < U/l). Tổn thương do virút là loại tổn thương rất nguy hiểm vì virút khi xâm nhập vào tế bào gan, chúng nhân lên và làm hủy hoại tế bào gan (làm tan vỡ các tế bào gan mà chúng xâm nhập). Tế bào gan càng bị hủy hoại càng nhiều thì lượng men gan giải phóng ra càng nhiều. Cho nên trong các trường hợp viêm gan cấp tính hoặc viêm gan tối cấp hoặc ung thư gan thì lượng men gan tăng nhanh một cách đột biến có khi lên tới 5.000U/l. Trong bệnh viêm gan B, C mạn tính, men gan cũng tăng, chỉ số men gan trong máu tăng cao hay thấp tùy theo mức độ tổn thương của tế bào gan, tức là mức độ nhân lên của virút viêm gan B, C.

Một nguyên nhân thường gặp là men gan tăng do tác dụng của rượu, bia, đặc biệt là rượu, trong đó nguy hiểm nhất là rượu tự pha, tự nấu do chất độc hại cho gan nhiều sẽ làm cho tế bào gan bị tổn thương nặng hoặc bị hủy hoại tế bào gan cho nên men gan cũng tăng lên một cách đáng kể. Lượng men gan tăng trong máu người uống rượu tùy thuộc vào liều lượng rượu vào máu và chất lượng rượu. Lượng men gan trong máu do gan bị tổn thương bởi rượu thì loại AST thường tăng cao từ 2 - 10 lần trong khi đó lượng ALT tăng ít.

Men gan cũng có thể tăng cao trong bệnh sốt rét do ký sinh trùng sốt rét, đặc biệt là sốt rét ác tính vì tế bào gan, thận bị tổn thượng hoặc các bệnh tắc đường mật do giun, viêm tụy, viêm dạ dày cấp, sởi, viêm tụy cấp hoặc mạn tính. Ngoài ra, men gan cũng có thể tăng trong các bệnh về đường mật (viêm đường mật, viêm túi mật, sỏi đường mật, sỏi đường mật trong gan, teo đường mật bẩm sinh) hoặc áp-xe gan. Người ta cũng thấy men gan có thể tăng trong các bệnh do ứ sắt, viêm gan tự miễn, bệnh lý tự miễn ở ruột non. Với một số thuốc dùng để điều trị một bệnh nào đó nhưng cũng có thể gây tác dụng phụ làm ảnh hưởng quá trình chuyển hóa của tế bào gan hoặc gây ngộ độc tế bào gan làm xuất hiện viêm gan cấp tính do thuốc, ví dụ ngộ độc thuốc điều trị lao. Trong trường hợp này, men gan có thể tăng lên đến 3.000U/l. Hoặc một số người bệnh bị tăng mỡ máu (cholesterol, triglycerit) dùng thuốc giảm mỡ máu cũng có thể làm tăng men gan nhưng khi ngưng uống thuốc thì men gan trở về chỉ số bình thường. Có một số trường hợp tuy gan bị tổn thương nhưng men gan không tăng, ví dụ như viêm gan trên bệnh nhân có hội chứng urê huyết hoặc ở người chạy thận nhân tạo định kỳ.

Cần hết sức lưu ý khi bị men gan tăng

Khi biết mình bị men gan tăng cao hơn bình thường thì cần chú ý bảo vệ sức khỏe, trước tiên là cần ngưng uống rượu hoặc bỏ hẳn rượu và rất cần đi khám bệnh. Khi men gan tăng, bác sĩ không chỉ dựa vào chỉ số men gan trong máu tăng mà còn dựa vào nhiều yếu tố khác và các xét nghiệm cận lâm sàng khác mới hy vọng kết luận được nguyên nhân gây tăng men gan như siêu âm gan, siêu âm hệ thống dẫn mật, tụy tạng cũng như xem xét một số bộ phận khác.

Khi được xác định nguyên nhân thì cần phải nghe lời tư vấn của bác sĩ khám bệnh cho mình. Cần nghỉ ngơi không làm các việc nặng, ăn uống điều độ, ăn uống kiêng theo tư vấn của bác sĩ. Không tự động mua thuốc để điều trị, bất luận là thuốc Tây y hay Đông y.

Người có men gan tăng cũng không nên chủ quan nhưng không nên lo lắng thái quá ảnh hưởng đến tinh thần, theo đó ảnh hưởng đến sức khỏe, nhất là còn mắc các bệnh khác về tim mạch hoặc bệnh rối loạn chuyển hóa. Cần khám bệnh định kỳ để theo dõi chỉ số men gan trong máu là việc làm rất cần thiết.
Xem tiếp…

NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH PHÒNG NGỪA BỆNH MEN GAN CAO

08:35 |
Men gan tăng cao là triệu chứng xuất hiện rất sớm, báo hiệu lá gan cần được chăm sóc. Để đưa men gan về ngưỡng an toàn, bạn nên làm theo các bước sau:
                                               
1. Không uống bia rượu

Hay nói chính xác hơn là không dùng những đồ uống chứa cồn. Thông thường khi vào cơ thể, gan sẽ phải “xử lý” lượng chất cồn và đào thải chúng ra ngoài. Nhưng khi gan yếu hoặc lượng chất cồn quá nhiều thì điều ngược lại sẽ xảy ra, chất cồn sẽ “xử lý” gan, phá hủy tế bào gan. Do đó, trong cuộc sống hàng ngày, bạn nên hạn chế uống bia rượu để bảo vệ lá gan. Đặc biệt khi gan bị viêm, men gan cao, người bệnh cần phải kiêng tuyệt đối bia rượu để giúp gan hồi phục nhanh.

2. Trao đổi với bác sĩ, dược sĩ về loại thuốc bạn đang sử dụng

Một số thuốc có thể gây hại cho gan và làm tăng men gan. Có những thuốc có thể gây độc tố ngay ở liều đầu tiên, nhưng cũng có những thuốc do sử dụng trong thời gian kéo dài nên gây tổn thương gan. Do đó, nếu bạn phát hiện men gan cao khi đang dùng một loại thuốc nào đó, bạn nên trao đổi với bác sĩ để tìm ra nguyên nhân chính xác.

3. Hạn chế ăn thực phẩm chế biển sẵn

Thức ăn nhanh rất tiện dụng và ngày càng phổ biến. Tuy nhiên bạn không nên ăn chúng hàng ngày vì vấn đề sức khỏe. Thông thường trong các thực phẩm chế biến sẵn có chứa thêm chất bảo quản, chất phụ gia tạo màu, mùi vị…để tạo sức hấp dẫn cho khách hàng và bảo quản được lâu. Những chất hóa học tổng hợp này thường khó phân hủy và đào thải ra ngoài, nên tích tụ lại trong cơ thể, đặc biệt tại gan, gây nhiễm độc gan.

4. Tránh xa các độc tố môi trường (sơn tường, khói thuốc lá…)

Khói thuốc lá chứa nhiều độc tố không chỉ gây bệnh về phổi, mà còn hấp thu vào máu, chuyển hóa tại gan và gây tổn thương cho gan.

Trong thành phần của sơn (tường) có chứa nhiều dung môi hòa tan, dễ bay hơi trong không khí và nếu bạn thường xuyên hít phải loại dung môi này, nó có thể hấp thụ vào cơ thể, gây độc hại cho gan. Do đó, bạn nên học cách bảo vệ và tránh xa các độc tố này. 

5. Uống nhiều nước

Uống nhiều nước rất có lợi cho gan. Uống nước giúp đẩy nhanh quá trình tuần hoàn máu và tăng cường khả năng hoạt động của các tế bào gan, giúp quá trình đào thải các chất độc ra khỏi cơ thể nhanh hơn. Để đạt được hiệu quả giải độc cho gan, mỗi ngày nên uống 2 lít – 2,5 lít nước, chia thành nhiều lần trong ngày, mỗi lần chỉ nên uống từ 150 -200ml.

6. Giảm cân

Trong nhiều trường hợp tăng men gan là do lượng mỡ lắng đọng trong gan nhiều hơn bình thường, hay còn gọi là gan nhiễm mỡ. Theo nghiên cứu Dennis Lee, việc giảm 5 – 10 % cân nặng sẽ giúp bạn hạ thấp men gan và cải thiện sức khỏe nói chung. Bạn nên giảm tiêu thụ các thực phẩm giàu chất béo và tăng khẩu phần rau quả chứa nhiều vitamin giúp gan đào thải độc tố tốt hơn.

7. Tập thể dục hàng ngày

Luyện tập thể dục hàng ngày không chỉ giúp kiểm soát cân nặng tốt hơn, mà còn giúp bạn cải thiện tuần hoàn máu. Gan cần cung cấp máu và chất dinh dưỡng liên tục để hoạt động tốt hơn.

8. Dùng thảo dược hỗ trợ chức năng gan

Để hỗ trợ cho gan, y học cổ truyền đã sử dụng các loại thảo dược giúp bổ gan, mát gan, tăng cường giải độc gan như: Actiso, Bồ công anh, Bồ bồ… Với những trường hợp men gan hơi cao, người bệnh nên sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ thảo dược, có độ an toàn cao. Hiện nay trên thị trường có nhiều loại sản phẩm bổ gan, bạn nên chọn sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng và thành phần thảo dược ưu việt, viên nang Chức Năng Gan Bảo Nguyên là một gợi ý cho bạn.
Xem tiếp…

NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ BỆNH XƠ GAN

07:46 |
Xơ gan được định nghĩa về giải phẩu học là sự hình thành nodule và fibrosis lan toả. Tiếp theo sau đó là hoại tử tế bào gan, mặc dù nguyên nhân thì có rất nhiều nhưng hậu quả thì giống nhau.

Fibrosis không đồng nghĩa với Xơ gan:

- Fibrosis có thể xảy ra trong suy tim, trong tắc ngẽn ống mật và fibrosis gan bẩm sinh hoặc trongvùng gian thuỳ trong bệnh gan nhiễm hạt – mà không hề có xơ gan thật sự!

- Sự hình thành nodule không kèm fibrosis gặp trong bệnh chuyển đổi từng phần sang thể nodule, cũng không phải là xơ gan

- Có sự liên quan giữa viêm gan mãn và xơ gan

Nguyên nhân xơ gan:

1. Do siêu vi B,C,D

2. Rượu

3. Do chuyển hóa: vd như: hemochromatosis, bệnh Wilson , thiếu men α-antitrypsin

4. Bệnh đường mật kéo dài

5. Nghẽn tỉnh mạch gan: vd: $ Budd-Chiari

6. Rối loạn miễn dịch: vd: viêm gan dạng lupoid

7. Độc chất: vd: Methotrexate, Amiodarone

8. Phẫu thuật bypass ở đường ruột

9. Suy dinh dưỡng, nhiễm trùng.

10. Bẩm sinh

Chẩn đoán xơ gan:

Ngoài các dấu hiệu đi kèm trong bệnh nguyên nhân, hai biểu hiện chính trong xơ gan là: suy tế bàogan, tăng áp lực tỉnh mạch cửa. Điều trị và tiên lượng phụ thuộc vào mức độ hai yêu tố này.

1. Lâm sàng:

-Mệt , sụt cân
-Chán ăn , rối loạn tiêu hóa
-Đau bụng
-Vàng da
-Phù chân , báng bụng
-Xuất huyết mũi , răng , da, đường tiêu hóa
-Giảm ham muốn tình dục

2. Tiền căn:

- Có vàng da

- Viêm gan

- Có dùng thuốc ảnh hưởng gan

- Có truyền máu

- Uống rượu

- Có người trong gia đình bị bệnh gan

3. Khám:

Sốt , vàng da, nổi mẩn, thay đổi sắc tố da, ngón tay dùi trống , móng tay trắng, sao mạch , lòng bàn tay son , chứng vú to , teo tinh hoàn ở đàn ông , báng bụng , gan lách to ,phù chân , rối loạn tâm thần , run cơ…vv

4. Xét nghiệm máu:

- Giảm hemoglobin, hồng cầu , bạch cầu, tiểu cầu , thời gian đông máu kéo dài
- Tăng bilirubin, men transaminase , phosphatase kiềm , giảm albumin
- Thay đổi ion đồ
- Tăng AFP
- Hiện diện các marker viêm gan
- Các kháng thể tự miễn.

5. Chẩn đoán hình ảnh:

- Siêu âm

- Nội soi

- CT.

Tiên lượng:

Những điễm có ích khi tiên lượng :

- Nguyên nhân: Xơ gan do rượu thường đáp ứng tốt hơn xơ gan không biết nguyên nhân
- Nếu xơ gan mất bù theo sau một xuât huyết, nhiễm trùng hay nghiện ruợu thì tiên lượng tôt hơn là xảy ra đột ngột vì các yêu tố thúc đẩy trên có thể điều chỉnh được.
- Đáp ứng điều trị: nếu bn không đáp ứng với điều trị khi nhập viện 1 tháng xem như tiên lượng kém
- Vàng da kéo dài là dấu hiệu nặng
- Biến chứng thần kinh: tiên lượng tốt hay xấu tùy thuộc cách xuất hiện các dấu thần kinh, liên quan đến suy tế bào gan thì tiên lượng xấu
- Cổ chướng nặng( cần dùng nhiều lợi tiểu) tiên lượng nặng.
- Gan: Gan lớn tiên lượng tốt hơn gan nhỏ
- Xuất huyết từ dãn Tm thực quản: Tiên lượng xấu
- Albumin máu <2.5g/l: tiên lượng xấu. Men gan và globulin không có giá trị tiên lượng.
- Biễu hiện thời gian Prothrombin kéo dài duy trì lâu trên lâm sàng: tiên lượng kém!
- Giảm HA kéo dài: tiên lượng xấu!
- Thay đổi mô học tế bào gan: theo dõi để đánh giá mức độ hoại tử và viêm tế bào gan.

Tóm lại: Tiên lượng được quyêt định bởi mức độ của suy tế bào gan. Vàng da, vết bầm tự nhiên, và cổ chướng không đáp ứng điều trị là những dấu hiệu nặng!

Điều trị:

Điều trị xơ gan còn bù tốt chủ yếu nhằm vào phát hiện sớm các biểu hiện suy tế bào gan. Chế độ ăn cân bằng và tránh rượu là chủ yếu.

- Một chế độ ăn gồm 1g Protein/1kg cân nặng là đủ trừ phi bệnh nhân có suy dinh dưỡng nặng!

- Thêm Methionin hoặc các chất bảo vệ gan vào điều trị là không cần thiết.

- Hạn chế Na , dùng lợi tiểu

- Dùng lactulose , không để bón

- Ngừa xuất huyết tiêu hóa:propranolol …vv

Thuốc chống xơ:

- colchicine

- Corticoids dùng trong viêm gan tự miễn

- Một số thuốc khác đang nghiên cứu: HOE 077

Phẫu thuật: tất cả các phẫu thuật ở bệnh nhân xơ gan đều có nguy cơ cao và tỉ lệ tử vong cao! Tham khảo phân độ Child’s:

- Tử vong 10% ở đô A

- 31% – độ B

- 76% – độ C
Xem tiếp…

SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC TIÊM VẮC XIN VIÊM GAN B SAU KHI SINH

07:05 |
Ung thư gan là căn bệnh đáng sợ vì diễn tiến rất thầm lặng, giai đoạn đầu thường không có triệu chứng gì nên không được chẩn đoán và điều trị sớm. Nhưng khi có biểu hiện rõ thì thường đã quá muộn và hiệu quả điều trị kém. Theo các chuyên gia, ung thư gan không phải hiếm gặp mà là một loại ung thư thường gặp, diễn tiến tới tử vong rất nhanh, thường trung bình chỉ từ 1 đến 6 tháng sau khi phát hiện bệnh nếu không được điều trị.

Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ viêm gan B cao nhất thế giới: 20% (một phần năm dân số). Bệnh viêm gan siêu vi B là nguyên nhân hàng đầu của ung thư gan. 25% bệnh nhân mắc phải siêu vi B sẽ đi vào biến chứng xơ gan, ung thư gan nếu không điều trị. 100% ung thư gan ở trẻ em là do viêm gan B.

Ở trẻ em Việt Nam, tỷ lệ bị mắc viêm gan B vào khoảng từ 13-18%. Chủ yếu các em bị lây nhiễm theo chiều từ mẹ sang con trong quá trình chuyển dạ.

Sự cần thiết của việc tiêm vắc-xin viêm gan B sau khi sinh

Theo khuyến cáo của các chuyên gia, việc tiêm vắc-xin viêm gan B ngay trong vòng 24h đầu sau sinh là rất cần thiết, bởi nếu tiêm sớm hiệu quả bảo vệ càng cao. Việc tiêm sớm càng có ý nghĩa hơn khi tỷ lệ lưu hành virus viêm gan B tại Việt Nam khá cao, 10-20% dân số.

PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, BV Bạch Mai cho biết, tiêm vắc-xin viêm gan B trong 24 giờ đầu sau khi sinh, thậm chí cả khi mẹ bị nhiễm virus, sẽ phòng được khoảng 85% nguy cơ nhiễm bệnh ở trẻ sơ sinh. Trong khi nếu mẹ có virus viêm gan B, thì 90% trẻ sinh ra sẽ bị lây. Nhiễm virus viêm gan B có thể dẫn đến xơ gan và ung thư gan sau đó. Khi đó, việc điều trị không chỉ tốn kém, lâu dài mà cũng rất nguy hiểm cho tính mạng trẻ.

Việc tiêm vắc-xin viêm gan B trong vòng 24h đầu sau sinh cũng là khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO). WHO đánh giá vắc-xin viêm gan B là một trong những vắc xin an toàn, không có chống chỉ định, có chống chỉ định, trẻ sinh non, sinh thiếu cân… cũng có thể tiêm được.

Có nên tiêm vắc-xin viêm gan B cho trẻ?

Sau khi xảy ra sự cố 3 trẻ ở Quảng Trị tử vong sau tiêm vắc xin có nhiều ý kiến khác nhau về việc tiêm vắc-xin viêm gan B cho trẻ sau khi sinh, có ý kiến cho rằng để trẻ tròn 1 tháng tuổi, khi trẻ đã cứng cáp hơn, cha mẹ có thể tự đưa trẻ đi tiêm vắc xin viêm gan B mũi đầu tiên, có ý kiến cho rằng nên lùi thời gian tiêm mũi đầu tiên viêm gan B cho trẻ, không nhất thiết phải tiêm trong vòng 24h đầu sau sinh.

Trong khi có nhiều ý kiến khác nhau, nhiều người dân đặc biệt là các là sản phụ thấy rất hoang mang và băn khoăn rằng có nên cho con tiêm gan B ngay sau khi sinh?

Tiến sĩ Viên Quang Mai, Phó Viện trưởng Viện Pasteur Nha Trang (Bộ Y tế) cho biết, việc tiêm phòng viêm gan B cho trẻ sơ sinh trong vòng 24 giờ là việc làm cần thiết bởi đã được nghiên cứu và Tổ chức Y tế thế giới đã thực hiện thành công ở nhiều nước trên thế giới. Tổ chức Y tế Thế giới cũng khuyến cáo Việt Nam phải thực hiện đúng quy trình trong vòng24 giờ sau khi sinh, bởi tạo cho trẻ con hiệu quả miễn dịch cao.

Quá trình nghiên cứu, rất nhiều nghiên cứu trên thế giới, người ta mới đưa ra khuyến cáo là nên tiêm cho các cháu trong vòng 24 giờ sau khi sinh.

Trong khi người dân hết sức hoang mang lo lắng bởi không biết có nên tiếp tục tiêm vaccine viêm gan B cho trẻ sau khi sinh hay không, tiêm ở đâu thì an toàn, PGS.TS Phạm Nhật An, Phó Giám đốc BV Nhi Trung ương khuyến cáo, để giảm thiểu nguy cơ gặp tai biến sau tiêm chủng, các bậc phụ huynh trước khi đưa con đi tiêm chủng cần tìm hiểu kỹ để biết được lợi ích cũng như các tác dụng phụ và tai biến có thể xảy ra khi tiêm chủng. Thứ hai, cần biết lịch tiêm chủng để có thể cho trẻ đi tiêm chủng đúng thời hạn (tác dụng phòng bệnh đạt hiệu quả cao hơn) và các trường hợp trì hoãn hoặc không có chỉ định tiêm chủng. Thứ ba, khi cho trẻ đi tiêm chủng phải bảo đảm trẻ không có vấn đề gì về bệnh tật, sức khỏe (nếu có thì cần được tư vấn của bác sĩ trước khi tiêm phòng).

Cũng theo PGS.TS Phạm Nhật An, để phòng tai biến nguy hiểm có thể xảy ra sau tiêm chủng, tại các địa điểm tiêm chủng cần được trang bị các hộp chống sốc và trang thiết bị xử lý tai biến. Trẻ sau tiêm chủng cần được theo dõi sức khỏe để phát hiện sớm các tai biến và điều trị kịp thời.

Theo ước tính của WHO, tỷ lệ tai biến sau tiêm là 1-2 trong một triệu liều, rất thấp trong khi các loại vắc-xin khác tỷ lệ có thể lên tới 2-5 trên triệu liều. Tiêm vắc xin viêm gan B có thể gây phản ứng thông thường như đau tại chỗ (3-9%), sốt trên 37,7 độ C và sốc phản vệ nhưng chỉ khoảng 1/600.000 liều.

Xem tiếp…